Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 15/08/2022 10:32 GMT+7

Hành trình gian nan tìm mộ của người vợ liệt sỹ

Biên phòng - Có thể ví cuộc kiếm tìm mộ chồng của chị Trần Thị Kim Chính (xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định) là một cuộc hành trình hơn 10 năm "ngậm ngải tìm trầm" đầy gian nan vất vả. Trên mỗi đoạn đường chị đi là muôn vàn khó khăn và thử thách, bao nhiêu lần vào rừng thẳm núi xa là bấy nhiêu lần khổ đau, thất vọng, nhưng rồi chị vẫn tin vào ngày mai với sự kỳ vọng lớn lao. Và sau hơn 10 năm lặn lội khắp vùng đất đỏ miền Đông Nam bộ, cuối cùng chị cũng đón được anh trở về với đất mẹ. 

cxd9_10b-1.jpg
Chị Trần Thị Kim Chính trong một lần đi tìm mộ chồng. Ảnh: Mai Thanh.
 
Chuyện cũ kể lại…

Ngôi nhà nhỏ tựa mình vào dòng Ninh Giang ám ảnh tôi bởi hình ảnh một người phụ nữ đã bước sang tuổi xế chiều ngày đêm vò võ một mình. Chị đã trải qua những tháng ngày tuổi trẻ đầy cực khổ, lo toan nhưng luôn tâm niệm sẽ tìm được di hài của chồng đưa về cố hương. Đó là hình ảnh đẹp về đức hy sinh, lòng thủy chung son sắt của bà Trần Thị Kim Chính, quê ở xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Hưng, Nam Định.

Năm 1964, cô gái trẻ Kim Chính mặc áo cô dâu về làm vợ anh Nguyễn Xuân Hưởng cùng xã. Niềm hạnh phúc đang ngập tràn trong trái tim đôi vợ chồng trẻ thì tháng 4-1965, anh xung phong lên đường nhập ngũ, khi đó con gái họ cũng vừa cất tiếng khóc chào đời.

Ngày tiễn anh lên đường cùng với hơn 600 đồng chí khác, bên dòng Ninh Giang, chị Chính hứa sẽ thay anh nuôi con và phụng dưỡng bố mẹ chu đáo. Anh ôm vợ vào lòng, nghẹn ngào hẹn đến ngày hòa bình, cả gia đình sẽ đoàn tụ. Nhưng rồi, niềm hy vọng về hòa bình vụt tắt khi chị nhận được giấy báo tử của anh một ngày cuối năm 1971.

Sau thời gian vật vã, khổ đau, tuyệt vọng, chị đã tự "vực dậy", cùng bố mẹ chồng vượt qua khó khăn và một thân một mình cố gắng nuôi con khôn lớn. Mẹ chồng thương người con dâu tốt nết, sớm phải chịu cảnh góa phụ nên nhiều lần khuyên chị đi bước nữa, bà con hàng xóm cũng mai mối nhiều, nhưng chị vẫn một mực ở vậy nuôi con và phụng dưỡng bố mẹ chồng. Đời người con gái lớn lên, hạnh phúc chưa tày gang đã đành tiễn biệt chồng ra đi. Đau lòng hơn là cả xã mấy chục người đi, chỉ có hai người sống sót trở về mà họ cũng không biết anh hy sinh nơi nào.

Chị tham gia các hoạt động đoàn thể để tạm quên đi nỗi đau mất chồng. Cứ rảnh rỗi là chị lại sang các xã lân cận hỏi thăm, trong vòng mấy năm, chị hỏi gần hết cả huyện. May mắn đã mỉm cười với chị khi có một người từng đi bộ đội ở xã bên biết tin liệt sỹ Hưởng.

Chị tìm đến người cựu chiến binh biết tin về chồng, đôi mắt ngấn lệ, chị bảo: "Em hỏi thăm nhưng không ai biết, người nọ chỉ đến tìm người kia mà người cần tìm đều không ai biết". "Anh có biết Hưởng, đó là lần anh đến Bệnh viện Bắc Sơn thăm cậu học trò và gặp Hưởng. Bắc Sơn là vùng đất giáp ranh giữa Cam-pu-chia và huyện Phước Long của tỉnh Bình Phước. Hưởng mất trong Bệnh viện Bắc Sơn, em ạ!" - Người cựu binh cho biết.   

Người lính một thời nơi trận mạc còn bảo: "Bộ máy cũ đã về hưu, bộ máy mới anh chẳng biết ai. Anh sẽ viết một lá thư, em mang vào TP Hồ Chí Minh đưa cho vị Thiếu tướng chỉ huy Trung đoàn năm xưa. Ông ấy sẽ có phương án giúp em".

10 năm dệt câu chuyện cổ

Tháng 10-1988, chị khăn gói vào TP Hồ Chí Minh. Khi tìm được đến nhà vị tướng già theo địa chỉ trong thư, chị hạnh phúc đến trào nước mắt. Đọc xong nội dung bức thư, vị tướng già viết ngay một bức thư gửi chỉ huy Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Chị cầm bức thư vào đơn vị cũ của chồng. Vào đến nơi mới biết khu rừng năm xưa giờ giao cho địa phương quản lý, những khu mộ trong rừng sau giải phóng có lẽ được đưa vào nghĩa trang cả rồi. Chị tìm vào nghĩa trang Phước Long, xem danh sách vẫn không có tên chồng. Chị bảo mấy chiến sĩ trở về đơn vị để một mình chị đi tìm.

Sau đó chị sang nghĩa trang Bình Long, vòng sang nghĩa trang Lộc Ninh đến nghĩa trang Đồng Xoài, lên nghĩa trang Bù Đăng, ngược Bù Đốp... tất cả đều không có tên anh. Mỗi nơi chị dừng lại một tuần, thắp hương cho các liệt sỹ và cầu mong linh hồn các anh phù hộ mình. Chị đến các xã, hỏi thăm đồi Bắc Sơn năm xưa, nhưng không ai biết. Nhiều người dân địa phương còn bảo: "Từ ngày giải phóng, chị là người đầu tiên hỏi về nơi ấy".

Chị quay lại đơn vị. Các anh trong đơn vị bảo: "Đấy là một căn cứ bí mật nên không có nhiều người biết". Chị trở lại Bù Gia Mập, hỏi dò thì được dân địa phương bảo trước đây có một người từng làm giao liên. Chị tìm đến nhà người giao liên đó thì vợ anh bảo: "Anh ấy đang đi làm ở Lộc Ninh, mỗi lần đi 3, 4 tháng mới về". Không có địa chỉ ở Lộc Ninh nên chị xin ở lại nhà anh Chủ tịch xã Bù Gia Mập chờ người giao liên năm xưa.

Trong thời gian đó, chị đi hái tiêu cho người dân địa phương với công 20 nghìn một ngày. 3 tháng sau, người giao liên ấy trở về. Ông là BaRui, người dân tộc Xtiêng, bảo có biết đồi Bắc Sơn vì ngày trước đã từng dẫn các đoàn làm phim vào chiếu cho bộ đội xem. Chị mừng như bắt được vàng, về xã trình bày, mọi người phát hiện đấy chính là rừng cấm quốc gia thuộc sự quản lý của Đồn BP Bù Gia Mập.

Thế là chị khăn gói ngược về Sài Gòn xin giấy của Bộ Tư lệnh BĐBP. Cầm tờ giấy phép trở lại Đồn BP Bù Gia Mập, anh đồn trưởng đã cho hai chiến sĩ dẫn chị đi. Cùng đoàn đi với chị còn có hai dân quân của xã Bù Gia Mập và ông già giao liên ngày nào. Trước khi cả đoàn đi vào rừng tìm dấu tích năm xưa, anh đồn trưởng còn dặn các chiến sĩ của mình: "Bằng cách nào cũng phải bảo vệ chị Chính, không được để bọn phỉ đụng đến chị...". 

Anh ở đâu giữa mênh mông rừng thẳm?

Chị không thể nhớ hết những tháng ngày gian khó trong mỗi lần vào rừng. Vì tưởng gần nên lần đầu vào chỉ chuẩn bị thức ăn có một ngày, sau 6 giờ đi bộ vào đến nơi thì trời vừa tối mà đoạn đường dọc biên giới vẫn còn xa thăm thẳm. Mọi người đành ngủ lại giữa rừng một tối, sáng hôm sau lại đi bộ trở ra. Nghỉ một tuần, chờ bên Đồn BP Bù Gia Mập xếp lịch cho người dẫn đường.

Lần thứ hai, chị chuẩn bị cẩn thận lương thực, thực phẩm và đồ dùng cho 5 ngày. Cả đoàn vừa đi vừa mở đường, băng qua những con suối cạn, suối đầy nước, chống chọi với muỗi và vắt, ngày tìm, đêm mắc võng ngủ. Và bất ngờ chị nhìn thấy những hầm chữ Y, hầm chữ A... đặc biệt là có cả giao thông hào chiến đấu. Mọi người đánh dấu rồi trở ra. Ra đến ngoài rừng, chị gọi điện cho vị Thiếu tướng già.

Vị Thiếu tướng bảo: "Mọi người đã đến đồi Bắc Sơn, giữa đồi là hầm giải phẫu quân y, hãy tìm đồi 19". Tìm bản đồ Phước Long chỉ nhìn thấy ghi 319. Anh đồn trưởng Đồn BP Bù Gia Mập bảo: "Ở đây làm gì có đồi nào mang tên 19 (đánh dấu theo độ cao)". Vị Thiếu tướng miêu tả: "Đứng ở chân đồi quân y Bắc Sơn nhìn về phía Bắc Cam-pu-chia thì đồi 19 nằm bên phải". Sau khi soi lại bản đồ, mọi người xác định, đồi 19 của đơn vị năm xưa là đồi 319 trong bản đồ Phước Long.

Lần xuất phát thứ ba đơn giản hơn, mọi người đi thẳng đến chỗ đánh dấu lần trước, cả đoàn chỉ mất có 2 ngày rưỡi và hơn 6 giờ mới lên được giữa đồi. Lúc này, mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Cả đoàn nghỉ ăn trưa, đi loanh quanh khu vực nghỉ chân. Bỗng, một con bướm đậu trên mũ chị. Anh lính Biên phòng đi cùng bảo: "Chúng ta hãy đi theo hướng con bướm bay". Mọi người đi theo, phát hiện ở đây đặt nhiều phiến đá phẳng được xếp vuông bốn góc. Nhìn lên mặt phẳng của sườn đồi, chị cũng thấy có rất nhiều những tấm đá phẳng được chôn một cách rất kỳ lạ...

Linh tính mách bảo chị đây là nơi các anh đang nằm. Chị bàn với mọi người thử đào một góc lên xem. Đi quanh đó, chị còn phát hiện một tấm bia đá có ghi chữ, nhưng đất đá và rêu đã phủ kín. Không có nước rửa, chị vặt lá cây rừng lau cho thật sạch thì những dòng chữ viết tắt hiện lên và chị kịp ghi lại thông tin trên tấm bia. Đó là nơi yên nghỉ của liệt sỹ Nguyễn Văn Tuân, quê ở Quảng Thủy (Quảng Trạch, Quảng Bình). Chuyến đi thứ ba đã cho chị biết khu vực anh và nhiều đồng đội khác đang nằm. Trở ra, chị gửi những dòng chữ ghi lại của mình trên tấm bia và thông báo cho gia đình liệt sỹ vào đưa anh Tuân ra.

Sau mỗi chuyến vào rừng là mỗi lần chị có thêm hy vọng, có thêm quyết tâm ở lại để tìm anh. Vào dịp mùa khô chị thuê người vào rừng, còn mùa mưa chị lại làm thuê và dò hỏi thông tin. Qua tìm hiểu, chị được biết, mỗi đơn vị có một nghĩa trang và có cả sơ đồ chôn cất các liệt sỹ. Sau bao nhiêu năm, sơ đồ đó vẫn còn được lưu giữ tại địa phương.

Khi biết thông tin ấy, chị bức xúc nói: "Vậy tại sao sau bao nhiêu năm như vậy mà không tổ chức vào tìm và đưa các liệt sỹ về"... và được trả lời rằng: "Kinh phí Nhà nước chi cho quá ít (120 ngàn/mộ), hơn nữa đây là khu vực rừng cấm của Bộ Quốc phòng, đường biên giới rậm rạp, đi vào khó khăn, có tìm cả tháng cũng chưa biết thế nào". Nghe đến đây, chị bật khóc vì xót xa, bởi hơn ai hết, chị hiểu về cái khó khăn họ đang gặp phải trên con đường này.
Hơn 10 năm chị Trần Thị Kim Chính tha hương, cần mẫn làm thuê để lấy tiền chuẩn bị lương thực, thực phẩm đi vào rừng tìm mộ chồng. Ngoài việc tìm được hài cốt của chồng, chị cũng đã đem lại niềm vui cho nhiều gia đình khác. Đặc biệt, trong chuyến đi tìm phần mộ chồng, chị đã phát hiện tấm sơ đồ có đánh dấu 587 ngôi mộ liệt sỹ và gửi đến một số cơ quan với mong muốn một ngày nào đó, tất cả phần mộ của các liệt sỹ sẽ được đưa về yên nghỉ trên chính mảnh đất quê hương.

Cuối năm 1998, sau hơn 10 tháng lặn lội khắp Bình Phước, chị trở ra Bắc mang theo toàn bộ sơ đồ về các mộ liệt sỹ đến Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và nhận được lời hứa sẽ tổ chức đưa các anh ra sau.

Tháng 9-1999, chị lại trở vào Phước Long. Lần thứ hai vào Bắc Sơn, cả đoàn phát hiện ra 587 ngôi mộ, chị viết thư gửi các cơ quan chức năng với mong muốn đưa các anh ra, nhưng vì đường sá xa xôi nên đến nay, các anh vẫn phải nằm lại chốn rừng xanh núi đỏ. Lần thứ hai, chị vào Phước Long ở 3 năm, chờ đợi mà vẫn không có tin tức gì mới nên đến năm 2002, chị lại ra Bắc, mang theo danh sách rất nhiều liệt sỹ quê Nam Định, ra gặp đồng chí Đỗ Minh Nguyệt (lúc bấy giờ đang là Trưởng phòng Chính sách, Cục Chính sách). Còn tung tích về mộ chồng chị vẫn bặt tăm trong sự chờ đợi đến vô vọng của chị.

Thương mẹ chồng già cả suốt ngày ngóng tin con nên chị trở ra Bắc. Được một thời gian, chị thu xếp công việc và quay lại Bình Phước, đó là giữa năm 2009 và sau nhiều ngày tìm kiếm cũng như đối chiếu thông tin phần mộ trên sơ đồ mộ chí, chị đã tìm được hài cốt anh và đưa anh trở về quê hương.
Mai Thanh

Bình luận

ZALO