Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 01/11/2020 02:21 GMT+7

Gian nan gieo chữ vùng cao

Biên phòng - Tìm đến những bản vùng sâu, vùng xa của huyện vùng cao Mường Lát, Thanh Hóa, gặp những giáo viên cắm bản, dạy học giữa heo hút đại ngàn, chúng tôi mới hiểu thế nào là giá trị của sự dấn thân cống hiến. Ở đó, có những thầy cô giáo không quản ngại vất vả, thiếu thốn về vật chất, vẫn ngày đêm bám trường, bám lớp, miệt mài bên trang giáo án và từng ngày gieo chữ trên những bản vùng cao biên giới.

3mtd_4-1.jpg
Lớp học được dựng lên bằng những miếng ván và phên nứa.
Gian nan con đường đi tìm cái chữ

Từ trung tâm huyện Mường Lát, để vào bản Ón, xã Tam Chung, chúng tôi phải vượt qua hơn 20km đường rừng với biết bao vực sâu, dốc đứng. Bản Ón - bản người Mông nằm lọt thỏm giữa những dãy núi cao, heo hút đại ngàn. Để vào được bản, chúng tôi phải mất gần 2 giờ đồng hồ. Thầy giáo Nguyễn Thế Cường, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tam Chung đang cố sức đẩy chiếc xe máy vượt qua một vũng lầy và nói với tôi: "Thế này chưa thấm vào đâu, phải vượt qua 2 con dốc cao nữa mới vào được bản, đặc biệt là con dốc Đá, người đứng ở chân dốc nhìn người ở đầu dốc chỉ là một chấm đen thôi. Con đường vào bản Ón,  ngày nắng còn đỡ, chứ những ngày mưa vô cùng gian nan. Các giáo viên cắm bản nơi đây vào cuối tuần mới ra thị trấn mua ít gạo và thức ăn mang về dùng cho cả tuần. Những ngày trời mưa không đi được, bà con dân bản lại "giúp" các giáo viên bát gạo, con cá khô hay nắm rau rừng".

Chiếc xe máy ì ạch "trèo lên" con dốc Nháp, rồi qua con dốc Đá, đưa chúng tôi vào trung tâm bản Ón khi trời đã nhá nhem tối. Dừng chân tại điểm trường tiểu học và điểm trường mầm non, chúng tôi  hiểu hơn những khó khăn, vất vả của những giáo viên cắm bản. Gọi là điểm trường nhưng thực ra đó chỉ là những căn phòng được dựng lên bằng vài miếng ván và phên nứa, phòng học này nối thông với phòng học kia. Thầy Lê Văn  Cát, giáo viên Trường Tiểu học Tam Chung nói vui: "Dựng lớp học như thế để khi nào thiếu giáo viên thì chúng tôi có thể chạy qua, chạy lại giữa 2 lớp". Hiện nay, thầy Cát vừa dạy lớp 2 vừa dạy lớp 4 vì giáo viên mới chưa kịp lên nhận công tác. Những lớp học xiêu vẹo không đủ sức chống lại những cơn mưa rừng và cái gió lạnh của vùng cao. Những ngày mưa to, gió lùa, giáo viên và học sinh vẫn kiên trì bám lớp, bám trường.

Trưởng bản Giàng A Sào cho biết: "Bản Ón có 97 hộ/598 khẩu, với 100% dân số là đồng bào dân tộc Mông di cư từ các tỉnh phía Bắc về. Cuộc sống của người dân trong bản quanh năm chỉ trông chờ vào nương rẫy, giao thông đi lại không thuận lợi nên người dân trong bản không có điều kiện giao lưu với các bản khác trong huyện". Cuộc sống của người dân ở đây gặp rất nhiều khó khăn. Con cái họ lớn lên là đi nương, đi rẫy chứ không ai nghĩ đến chuyện cho con đi học. Bởi theo cách nghĩ đơn giản của người dân, đi làm nương thì có hạt ngô, hạt thóc mà ăn chứ đi học làm sao mà no được cái bụng. Vì thế khiến cho tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng ngày càng tăng. Giáo viên cắm bản ngày ngày phải vượt qua những ngọn đồi đến từng nhà dân để vận động các em đến trường. Nhưng rồi cứ đến mùa làm rẫy, sĩ số lớp học lại vơi đi hơn một nửa.

Cắm bản dạy học

Để tiện cho việc lên lớp, các thầy cô giáo phải ở lại trong bản. Bà con dân bản giúp dựng cho các thầy cô một căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Cô giáo Vi Thị Duyên và cô giáo Nguyễn Thị Nhàn (Trường Mầm non Tam Chung) đã ở lại dạy học trong bản Ón gần một năm nay. Nhà ở ngoài thị trấn nhưng cả tuần các cô mới về nhà được 1 lần lấy gạo và thức ăn mang vào bản cho tuần tiếp theo. Sau những giờ lên lớp, các cô lại trở về với những sinh hoạt đời thường trong căn phòng nhỏ do bà con dân bản dựng cho.

Để mang cái chữ đến cho học sinh vùng cao, những thầy cô giáo cắm bản đã trở thành những người con của bản làng. Cùng ăn, cùng ở và cùng nói tiếng dân tộc để hiểu hơn về cuộc sống của bà con dân bản và nói cho bà con thấy lợi ích lâu dài để cho con em đến lớp sau mỗi mùa nương rẫy.

Thầy giáo Nguyễn Thế Cường cho biết: "Khó khăn lớn nhất của các giáo viên cắm bản là vấn đề giao tiếp với bà con dân bản và các em học sinh, vì nhiều học sinh vẫn chưa biết tiếng phổ thông. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giảng dạy. Vì vậy, những lúc đi vận động học sinh đến lớp, chúng tôi phải nhờ đến Ban quản lý bản là những người bản địa".

Trăn trở với sự học nơi vùng cao, bằng tâm huyết và lòng yêu nghề, những thầy, cô giáo đã không quản ngại khó khăn, vất vả, thiếu thốn, tình nguyện ở lại nơi bản nghèo heo hút để mang cái chữ đến cho học sinh. Dẫu rằng, con đường đi tìm cái chữ của học sinh vùng cao còn nhiều gian nan, nhưng vẫn còn đó, hình ảnh những thầy cô giáo cắm bản, ngày ngày bám lớp, bám trường giữa heo hút đại ngàn.
Linh Nga

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO