Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 30/11/2020 04:53 GMT+7

Giải phóng và làm chủ biển đảo mùa Xuân năm 1975

Biên phòng - Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, thời cơ chiến lược để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã xuất hiện. Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam, bao gồm cả các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam ngay trong mùa khô 1975. Trong cuộc họp cuối tháng 3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo: "Nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4-1975 không thể để chậm"*. 

26a-1.JPG
Bộ đội Hải quân giải phóng đảo Nam Yết (quần đảo Trường Sa) tháng 4-1975.

Cùng với việc khẩn trương chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong tháng 4-1975, nhiệm vụ giải phóng các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông mà Quân đội Sài Gòn đang chốt giữ, cũng được đặt ra hết sức cấp bách, đặc biệt là với một số đảo, quần đảo ở xa đất liền và có vị trí chiến lược hết sức quan trọng như: Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc... Các đảo, quần đảo này vừa ở xa đất liền, vừa có yếu tố nước ngoài chi phối, nhất là quần đảo Trường Sa, do vậy mà việc giải phóng các đảo, quần đảo vào thời điểm nào cho thích hợp và bằng cách nào để giảm thấp nhất thương vong cho bộ đội, là một bài toán hóc búa mà cơ quan chỉ đạo chiến lược phải tính toán, cân nhắc rất kỹ.

Tình hình ở miền Nam lúc này diễn biến hết sức mau lẹ. Sau khi Tây Nguyên, Trị-Thiên Huế, Đà Nẵng và một loạt các vị trí chiến lược quan trọng dọc các tỉnh duyên hải miền Trung rơi vào tay Quân giải phóng, hai quân đoàn thiện chiến và hai quân khu phía Bắc của Việt Nam cộng hòa bị xóa sổ, chính quyền và quân đội Sài Gòn lâm vào tình trạng suy sụp hoàn toàn. Đây chính là thời cơ thuận lợi để ta thực hiện chủ trương giải phóng biển đảo, nhất là quần đảo Trường Sa.

Ngày 4-4-1975, thay mặt Thường vụ Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một bức điện đặc biệt cho Khu ủy, Bộ Tư lệnh (BTL) Quân khu 5 và BTL Hải quân, chính thức giao nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa, trong đó chỉ rõ: "Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy giao nhiệm vụ cho Khu ủy, Quân khu ủy, BTL Quân khu 5 và BTL Hải quân khẩn trương nghiên cứu kế hoạch tác chiến và tiến hành mọi công tác chuẩn bị để khi có thời cơ thì kịp thời giải phóng quần đảo Trường Sa, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng". 

Do ý thức đầy đủ về chủ quyền biển, đảo nên ngay từ đầu năm 1975, Quân chủng Hải quân cũng đã xây dựng các phương án và chuẩn bị tác chiến trên hướng biển, đặc biệt là giải phóng các đảo khi có lệnh. Tư tưởng chỉ đạo tập trung vào các nội dung: Quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam. Đây là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược về quân sự, chính trị và kinh tế. Quân đội Sài Gòn đóng giữ một số đảo, còn một số đảo do quân đội nước ngoài chiếm giữ. Các lực lượng làm nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa phải tích cực chuẩn bị, để khi thời cơ đến nhanh chóng hành động, bảo đảm chắc thắng; phải bám sát tình hình, nếu phát hiện đối phương có biểu hiện hoang mang rối loạn, phải kiên quyết hành động ngay, không để chậm.

577x320_26c-1.jpg
Giải phóng đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa).
 
Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam đều nằm cách đất liền hàng trăm hải lý, tình hình ở các vùng biển này lại cực kỳ phức tạp. Năm 1956, Hoàng Sa đã bị quân đội nước ngoài đánh chiếm một phần và năm 1974 thì chúng chiếm hoàn toàn. Trong khi đó lực lượng làm nhiệm vụ giải phóng đảo, quần đảo của ta lại rất mỏng, trang bị vũ khí, phương tiện còn hạn chế... vì vậy mà vấn đề nắm thời cơ để giải phóng các đảo rất quan trọng, nó phụ thuộc vào bước chân thần tốc của các cánh quân trong đất liền, phụ thuộc vào sự bị động của quân đội nước ngoài, không để họ "tát nước theo mưa" nhảy vào đánh chiếm Trường Sa trước như đã từng làm với quần đảo Hoàng Sa. Thời cơ để giải phóng quần đảo Trường Sa xuất hiện khi mà, một dải đất duyên hải Nam Trung bộ cùng với các đảo gần bờ đã được giải phóng, quân đội Sài Gòn như "ong vỡ tổ" phải co cụm về cố thủ ở phòng tuyến Xuân Lộc để bảo vệ cho Sài Gòn.

Ngày 9-4-1975, khi ở trong đất liền, cuộc tiến công vào phòng tuyến Xuân Lộc mở màn, thì trên hướng biển, BTL Hải quân được lệnh ra giải phóng quần đảo Trường Sa. Ngày 11-4, một biên đội tàu vận tải của Đoàn 125, gồm 3 chiếc: 673, 674, 675 cùng với một số đơn vị bộ binh và đặc công rời quân cảng Đà Nẵng nhanh chóng tiến ra Trường Sa. 5 giờ sáng ngày 14-4, đảo Song Tử Tây được giải phóng. Trong khi biên đội tàu cơ động giải phóng tiếp đảo Sơn Ca, thì trên vùng trời và biển Trường Sa xuất hiện nhiều máy bay và tàu lạ cố tình gây cản trở.

Trước tình hình đó, BTL Hải quân đã lệnh cho một bộ phận tiếp tục ở lại giữ Song Tử Tây, bộ phận còn lại trở về để củng cố và bổ sung lực lượng, trang bị. Ngày 21-4-1975, phòng tuyến Xuân Lộc bị chọc thủng, cánh cửa phía Đông của Sài Gòn mở toang; tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu từ chức... Thời cơ lớn đã đến, BTL Hải quân tiếp tục điều một biên đội tàu (673, 675 và 641) đưa Đội 1 của Đoàn 126 Đặc công và Tiểu đoàn 471 của Quân khu 5 ra giải phóng các đảo còn lại ở quần đảo Trường Sa. Sáng 25-4, ta giải phóng đảo Sơn Ca, sáng 27-4 làm chủ hoàn toàn đảo Nam Yết, 28-4 là đảo Sinh Tồn... tiếp đó là đảo Trường Sa lớn (29-4) và các đảo còn lại.

27pa_26b-1.jpg
Trường Sa những ngày đầu Hải quân nhân dân Việt Nam tiếp quản.
 
Sau khi giải phóng một số đảo trên quần đảo Trường Sa, ngày 30-4-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung Ương điện cho Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Sài Gòn - Gia Định lưu ý việc giải phóng và đưa số tù nhân từ các nhà tù Côn Đảo và Phú Quốc trở về đất liền. Một ngày sau đó, trong khi tàu của Đoàn 125 đang trên đường đưa lực lượng ra giải phóng đảo, thì tù nhân ở nhà tù Côn Đảo đã tự nổi dậy phá nhà lao, giải phóng hòn đảo này.

Tương tự như vậy, tại Phú Quốc, hơn 8.000 quần chúng cùng với một số tù nhân sau khi nghe tin Sài Gòn giải phóng, đã tự nổi dậy phá khám, giải phóng đảo ngọc này vào chiều 30-4-1975. Một số đảo trên vùng biển Tây Nam tuy có muộn hơn, song tất cả đã được giải phóng: Thổ Chu (đêm 23, rạng 24-5), Pô Lô Vai (27-5). Cả hai hòn đảo này đều được giải phóng từ tay quân Pôn Pốt. Các đảo gần bờ duyên hải Trung bộ được giải phóng từ trước đó, cùng thời điểm khi các lực lượng ra giải phóng quần đảo Trường Sa (đảo Lý Sơn: 31-3, Cù Lao Thu: 27-4...).

Việc kịp thời nắm bắt thời cơ và quyết định tổ chức lực lượng ra giải phóng các đảo, quần đảo, đặc biệt là một số ở xa đất liền và có vị trí chiến lược quan trọng như Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 cho thấy, chủ trương và sự chỉ đạo sắc sảo, kịp thời, sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Điều này còn thể hiện rõ ý thức của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam về chủ quyền đối với vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

* Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ngày 25-3-1975.
Đại tá, PGS. TS Trần Ngọc Long
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO