Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 27/05/2022 06:49 GMT+7

Giải pháp nào để phát huy giá trị lễ hội truyền thống?

Biên phòng - Các dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam có nhiều lễ hội truyền thống gắn với quá trình lập bản, lập mường, lễ nghi nông nghiệp, tâm linh... Qua thời gian, nhiều lễ hội dân gian đã bị thất truyền, mai một. Trước thực trạng đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) đã chỉ đạo các Sở VHTT&DL phối hợp với chính quyền địa phương phục dựng lại các lễ hội dân gian để bảo tồn, phát huy trong đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, sau phục dựng, nhiều lễ hội vẫn chưa đủ sức hồi sinh.

Phục dựng Lễ hội Xăng khan tại Làng Văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam (ảnh chụp trước thời điểm bùng phát dịch Covid-19). Ảnh: Ngọc Ánh

Thất truyền lễ hội

Khoảng những năm 1980 trở về trước, những người con dân tộc Thái trong các bản làng miền Tây Nghệ An đều biết đến Lễ hội Xăng khan - một lễ hội tín ngưỡng tâm linh độc đáo của dân tộc mình. Lễ hội này do các thầy mo đứng ra tổ chức và làm chủ lễ, với ý nghĩa tạ ơn các thầy mo tiền bối, tổ tiên đã dạy cho người làm mo cách bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Lễ hội Xăng khan cũng là dịp để người dân khắp bản trên, làng dưới trả ơn thầy mo đã chữa khỏi bệnh cho người thân trong gia đình.

Trong Lễ hội Xăng khan, cả phần lễ lẫn phần hội đều chứa đựng những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể quý giá, độc đáo của cộng đồng người Thái. Đó là cây boọc mạy (cây hoa) - trung tâm hành lễ với những vật tượng trưng cho cuộc sống vạn vật như: chim, cá, ve sầu, rắn... Đó còn là những lễ vật ẩm thực dân tộc được dâng lên trong lễ cúng như: rượu trắng, rượu cần, gà luộc, thịt lợn, cá nướng, trầu cau... Đặc biệt là những áng sử thi, trường ca, truyền thuyết bằng văn vần kể về thuở khai lập bản mường, về những anh hùng dân tộc Thái, về thần linh, tổ tiên trên mường Trời... được thầy mo sử dụng trong các bài cúng khi hành lễ.

Ngoài ra, trong Lễ hội Xăng khan còn có âm thanh cồng chiêng, khắc luống; những bài hát mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc; những điệu múa lễ nghi độc đáo; những trò diễn tài thuật thú vị của các thầy mo như đi trên than lửa, giữ quả trứng trên mũi kiếm, lấy răng kẹp vào kiềng bếp đang nung đỏ mà không bị bỏng...

Tuy nhiên, khoảng gần 30 năm nay, trong các bản làng người Thái ở vùng Phủ Quỳ (các huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong) đã không còn thấy “bóng dáng” Xăng khan. Nghệ nhân Ưu tú Sầm Văn Bình ở bản Yên Luốm, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp cho biết: “Khoảng năm 1978, tôi được tham dự một lễ Xăng khan do thầy mo Sầm Văn Tấn ở bản Yên Luốm tổ chức. Từ đó đến nay, không thấy ông mo nào ở Quỳ Hợp tổ chức Xăng khan nữa. Bên các huyện lân cận như Quỳ Châu, Quế Phong, cũng chỉ còn một vài ông mo tổ chức Xăng khan khi gia đình có điều kiện sắm sửa đồ lễ (vì làm Xăng khan khá tốn kém kinh phí). Năm 2017, Lễ hội Xăng khan của người Thái Nghệ An được Bộ VHTT&DL công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Tuy nhiên, sau lễ công bố, Xăng khan vẫn chưa hồi sinh trở lại trong cộng đồng người Thái-Quỳ Hợp. Mặc dù toàn huyện vẫn còn 57 người làm nghề mo sống trong các bản, làng vùng sâu, vùng xa”.

Còn tại tỉnh Điện Biên, qua công tác khảo sát, kiểm kê, đánh giá thực trạng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng 20 dân tộc anh em trên địa bàn toàn tỉnh, Phòng Di sản văn hóa (Sở VHTT&DL) cho biết, có hàng trăm lễ hội văn hóa, nghi lễ tâm linh, lễ nghi nông nghiệp... đã và đang được đồng bào duy trì, tổ chức trong phạm vi gia đình, dòng họ hoặc cộng đồng. Tuy nhiên, anh Thào A Dơ, cán bộ Phòng Nghiên cứu sưu tầm (Bảo tàng tỉnh Điện Biên) chia sẻ: “Qua thời gian, cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, nhiều lễ hội dân gian, lễ nghi liên quan đến tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các DTTS đã bị mai một, thất truyền. Ví dụ như Lễ Nhảy lửa của người Dao, huyện Tủa Chùa; Lễ Cầu mùa của người Si La, huyện Mường Nhé; Lễ cưới của người Xạ Phang (Hoa), huyện Mường Chà...”.

Đồng bào Khơ Mú xã Ẳng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên biểu diễn dân vũ trong Lễ hội Cầu mưa (ảnh chụp trước thời điểm bùng phát dịch Covid-19). Ảnh: Ngọc Ánh

Thiếu kinh phí để bảo tồn bền vững

Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTT&DL), trên cả nước hiện có 395 di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó, có trên 100 di sản văn hóa phi vật thể là lễ hội truyền thống, số còn lại là di sản nghệ thuật trình diễn dân gian và tập quán xã hội và tín ngưỡng... Trong số hàng trăm di sản lễ hội dân gian, có nhiều lễ hội được phục dựng từ ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020.

Tại tỉnh Điện Biên, từ năm 2011 đến nay, từ nguồn ngân sách Chương trình mục tiêu quốc gia, Sở VHTT&DL đã giao cho Bảo tàng tỉnh triển khai thực hiện phục dựng, bảo tồn mỗi năm từ 1-2 lễ hội dân gian các DTTS, ưu tiên các dân tộc rất ít người. Anh Lê Đình Hải, cán bộ Phòng Nghiên cứu sưu tầm (Bảo tàng tỉnh Điện Biên) cho biết: “Với kinh phí Nhà nước hỗ trợ phục dựng, bảo tồn mỗi di sản chỉ từ 100 đến 200 triệu đồng, mỗi năm, bảo tàng tỉnh cố gắng lắm cũng chỉ tổ chức phục dựng, trình diễn được 1-2 lễ hội. Nhiều lễ hội sau khi phục dựng, trình diễn, hoàn thiện hồ sơ khoa học xong thì “chìm xuồng”, chưa phát huy được giá trị trong đời sống cộng đồng”.

Có nhiều nguyên nhân, song, chuyện “thiếu kinh phí bảo tồn bền vững” vẫn là yếu tố then chốt của vấn đề. Theo chị Lê Thị Lan Anh, cán bộ Phòng Di sản văn hóa (Sở VHTT&DL Điện Biên): “Để các lễ hội, lễ nghi dân gian các DTTS thực sự hồi sinh, bám rễ sâu bền vào đời sống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, Trung ương và chính quyền địa phương cần có một khoản kinh phí dành riêng để hỗ trợ đồng bào phục dựng lại lễ hội gắn với những sự kiện văn hóa-chính trị tại địa phương. Ví dụ, hỗ trợ đồng bào mua đạo cụ, trang phục dân tộc để tiến hành nghi lễ; hỗ trợ các nghệ nhân cao tuổi truyền dạy cho lớp trẻ các nghi thức hành lễ, các điệu múa, bài hát dân gian có sử dụng trong lễ hội...”.

Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần ưu tiên phát triển du lịch gắn với lễ hội. Chính quyền các cấp và các bộ, ngành liên quan hỗ trợ xây dựng các dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và hiểu biết của đồng bào về lễ hội dân gian, từ đó, thu hút cả cộng đồng tham gia bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội.

Ngọc Ánh

Bình luận

ZALO