Báo Biên Phòng 10-10-2022, 10:31

Việt Nam - Campuchia Samaki

Việt Nam - Campuchia Samaki

Việt Nam - Campuchia Samaki

Cách đây 55 năm (ngày 24/6/1967), Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sự kiện đầy ý nghĩa này đã ghi dấu trang sử mới trong quan hệ hai nước. Hơn nửa thế kỷ qua, lãnh đạo và nhân dân hai nước luôn khẳng định quyết tâm cùng vun đắp mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp, hợp tác song phương, phát triển toàn diện và bền vững lâu dài… (Samaki là chữ của Campuchia, hiểu theo tiếng Việt là đoàn kết).

DƯỚI CÁNH RỪNG IA POOC

Cuối năm 2018, nhân dịp sự kiện Bộ Tư lệnh BĐBP phối hợp với UBND tỉnh Kon Tum tổ chức Chương trình “Giao lưu hữu nghị biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia lần thứ nhất”, Đại tướng Bu Thoong (nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Vương quốc Campuchia) và Đại tá Diệp Xuân Cung (nguyên Phó Chỉ huy trưởng BĐBP Kon Tum) mới lại có dịp gặp nhau. Cuộc gặp mặt đầy xúc động này diễn ra tại nhà riêng của Đại tướng Bu Thoong ở thành phố Ban Lung, tỉnh Rattanakiri. Hai người lính già tuổi đã “tri thiên mệnh”, lúc nói bằng tiếng Việt, lúc chen tiếng Campuchia, lúc sôi nổi, lúc trầm lắng cùng nhau hồi tưởng về một thời trai trẻ, sát cánh bên nhau chống lại kẻ thù chung. Dòng chảy lịch sử như thước phim quay chậm, dần tái hiện trong hồi ức của hai cựu chiến binh...

Năm 1975, để thoát khỏi sự cai trị của Khmer đỏ, ông Bu Thoong cùng nhiều cán bộ và trên 2.000 người ở các tỉnh Đông Bắc Campuchia lánh nạn sang khu vực Sa Thầy, tỉnh Kon Tum của Việt Nam. Ngay sau khi qua tới Việt Nam, ông Bu Thoong đã tìm đến BĐBP Kon Tum (lúc đó gọi là Công an nhân dân vũ trang) xin được giúp đỡ. Nhận được tin báo, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP (lúc đó gọi là Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang) đã chỉ đạo BĐBP Kon Tum tham mưu cho chính quyền địa phương tổ chức tiếp nhận bà con, đồng thời giúp đỡ thuốc men, lương thực và ổn định cuộc sống dưới cánh rừng Ia Pooc (thuộc xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum ngày nay). Một tổ công tác đặc biệt gồm 6 người, trong đó có ông Diệp Xuân Cung được thành lập, có nhiệm vụ phối hợp nắm tình hình và giúp đỡ những người lánh nạn.

Đại tá Diệp Xuân Cung nhớ lại: Cùng với việc giúp các hộ dân Campuchia dựng nhà, nhanh chóng ổn định cuộc sống, khám chữa bệnh, theo yêu cầu của bạn, chúng tôi còn huấn luyện vũ trang, nghiệp vụ cho các thanh niên trong đoàn người lánh nạn để chờ ngày trở về chiến đấu giải phóng quê hương. Sau này, trong số hơn 2.000 người lánh nạn ở Ia Pooc ngày ấy, có hơn 100 người đã trở thành cán bộ nòng cốt của chính quyền cách mạng Campuchia. Điển hình như ông Khăm Len làm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia; ông Xô Keo, Thao Chuông, Bun Lâm và một số người khác làm Hạ nghị sĩ, Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng của 5 tỉnh Đông Bắc Campuchia… Lúc đang là Tỉnh trưởng tỉnh Rattanakiri hay khi đã trở thành Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng nghị sĩ, mỗi lần đến Kon Tum, ông Bu Thoong đều tìm gặp Diệp Xuân Cung và những người anh em đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi ngày ấy…

Một dấu ấn rất sâu sắc nữa giữa gia đình ông Bu Thoong với BĐBP Việt Nam là việc đặt tên cho người con trai đầu. Theo đó, vợ chồng ông Bu Thoong có người con trai đầu được sinh ra ở Việt Nam, ngay dưới cánh rừng Ia Pooc. Khi quay trở về chiến đấu giải phóng quê hương, để đề phòng bất trắc, ông Bu Thoong đã dắt cậu con trai còn nhỏ đến nhờ người lính Công an nhân dân vũ trang tên Phan Thái Vân trông nom, nuôi nấng với lời dặn: "Nếu tôi có mệnh hệ gì thì anh Vân thay tôi nuôi dạy cháu nên người nhé!".

Người con trai đó có tên là Thoong Sa Voun. Theo giải thích của ông Bu Thoong: chữ “Voun” (trong tên Thoong Sa Voun), phát âm theo tiếng Việt là “Vân”. Cái tên này như một lời nhắc nhở về mối ân tình với BĐBP Việt Nam và người lính Biên phòng Phan Thái Vân. Và “cậu bé” được Phan Thái Vân và BĐBP Việt Nam nuôi dạy ngày xưa đó, sau này giữ chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Rattanakiri, Phó Chủ tịch Đảng CPP. Cũng như cha, Tỉnh trưởng Thoong Sa Voun luôn dành tình cảm tốt đẹp cho Việt Nam - nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, nhất là trong vấn đề tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Việt Nam ở Campuchia.

Đại tướng Bu Thoong đã về với thế giới của người hiền, nhưng câu chuyện về sự giúp đỡ, hỗ trợ chí tình chí nghĩa của BĐBP Việt Nam và người dân biên giới Kon Tum đối với ông Bu Thoong và đoàn người lánh nạn từ Campuchia sang Việt Nam vẫn được người dân hai bên biên giới nhớ mãi. Sự giúp đỡ trong sáng, thủy chung đó chính là nguồn suối mát lành để vun tưới trái ngọt, hoa lành cho tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân và lực lượng vũ trang hai nước mãi về sau này.

LẬP HÀNG RÀO SỐNG BẢO VỆ NGƯỜI DÂN CAMPUCHIA

Năm 1976, không chịu được cảnh tàn sát, độc tài của chế độ diệt chủng Pol Pot, hàng ngàn người dân Campuchia đã dắt díu nhau chạy sang Việt Nam nhờ giúp đỡ. Sau khi đất nước Campuchia được giải phóng, nhưng rất nhiều người vẫn ở lại Việt Nam, lập làng lập ấp, sống hòa thuận với người dân bản địa. Họ ở lại vì cái nghĩa, cái tình, vì chính tấm lòng và sự cưu mang, giúp đỡ của người dân và BĐBP. Hàng chục, hàng trăm hộ dân đã nhập quốc tịch, coi Việt Nam là quê hương thứ 2 của họ. Chính vì thế nên dọc trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, có rất nhiều làng có nguồn gốc là dân Campuchia.

Ở huyện Đức Cơ, Gia Lai, nhiều người biết tới danh làng Triel xã Ia Pnon vì phần lớn người dân ở đây có nguồn gốc từ Campuchia. Già làng Rơ Châm Tromr, sinh năm 1942 nhớ lại: Hồi tháng 4/1076, gia đình ông và hơn 100 người dân làng Triel (xã O Gia Tung) và làng Lâm (xã Po Nhay) thuộc huyện Ou Ya Dav, tỉnh Rattanakiri, Campuchia chạy qua Việt Nam. Điểm dừng chân của họ là xã Ia Pnon, huyện Đức Cơ. Khi chạy qua được Việt Nam, một số người già và trẻ em đã lả đi vì đói và mệt. Lúc đó, mặc dù cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn nhưng bà con các dân tộc và chính quyền xã Ia Pnon đã giang rộng vòng tay đón nhận, chia ngọt sẻ bùi với các hộ dân lánh nạn từ bên Campuchia sang.

Với tinh thần tương thân, tương ái “hạt gạo chia đôi, bát cơm sẻ nửa” chính quyền, người dân ở Ia Pnon và bộ đội đã giúp đỡ, chăm sóc những người bạn mới rất ân cần trong khả năng có thể. “Rất nhiều người còn bắt cả những con gà đang nhảy ổ, lấy cả thóc giống ra giã để nấu cháo cho chúng tôi ăn” - Già làng Rơ Châm Tromr xúc động. Cùng với đoàn người lánh nạn sang Việt Nam năm 1976, Bà H’Phin nói: Khi biết đã tới đất Việt Nam, chúng tôi mới dám hy vọng mình còn sống. Vì nếu không may bị bọn Pol Pot phát hiện thì cầm chắc cái chết.

Ông Rơ Châm Ét, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Ia Pnon (giai đoạn 1987-1988) nhớ lại: Hay tin hàng trăm người dân ở 2 xã O Gia Tung và xã Po Nhay lánh nạn sang Việt Nam, bọn Pol Pot lồng lộn, tìm mọi cách để truy sát. Trong hai năm, 1976-1978, chúng liên tiếp mở các đợt lùng sục, liều mạng mò sang cả bên đất Việt Nam. Nhưng hành động của chúng đã bị BĐBP Việt Nam phát hiện, đánh trả. Để bảo đảm an toàn cho những người dân Campuchia đang lánh nạn, chính quyền và bộ đội Việt Nam đã di dời họ vào sâu trong nội địa, cách chỗ ở trước kia gần chục kilômet.

Cùng với đó, dọc trên biên giới, một số ngôi làng của người Việt Nam được dựng lên, mục đích là vừa tham gia bảo vệ biên giới vừa làm lá chắn để bảo vệ cho những người bạn mới... Chính quyền xã căn dặn bà con tuyệt đối không tiết lộ thân phận những người vượt biên tị nạn và phải cảnh giác, bao bọc để giữ cho họ được an toàn. Ông Rơ Châm Ét nói: "Được chính quyền, dân làng cưu mang, bộ đội canh gác, bảo vệ nên người dân hai xã O Gia Tung và Po Nhay đã nhanh chóng ổn định cuộc sống".

Từ những năm 1980, khi bên kia biên giới đã yên ổn, nhiều người Campuchia đã xin ở lại Việt Nam. Trước nguyện vọng của người dân, chính quyền Ia Pnon đã làm thủ tục cho họ nhập quốc tịch Việt Nam. Thể theo nguyện vọng của các hộ dân Campuchia, cái tên làng Triel vẫn được giữ lại để đặt cho làng mới thuộc xã Ia Pnon, huyện Đức Cơ, Gia Lai. Ông Rơ Mah Blơi (con ruột của bà H’Phin) chia sẻ: Tuy sinh ra ở Campuchia nhưng tôi lớn lên và trưởng thành ở Việt Nam. Tôi cưới vợ người Việt Nam và có 4 người con, hiện 3 đứa đã lập gia đình, sống quanh vùng này. Cả nhà tôi có quốc tịch Việt Nam.

Theo ông Phan Ngọc Tuấn, Chủ tịch UBND xã Ia Pnôn, làng Triel hiện đang canh tác 84ha cây công nghiệp, 30ha mì, 20ha lúa và nhiều loại cây khác. Ngoài làm nương rẫy, người dân ở làng Triel còn đi làm công nhân cạo mủ cao su. Vậy nên cuộc sống của người dân đã có nhiều thay đổi tích cực. Trẻ em được đến trường, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm.

Nằm cách Đồn Biên phòng Ia O, BĐBP Gia Lai hơn 1km, làng Kloong, xã Ia O (huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) là ngôi làng khá đặc biệt vì phần lớn người dân sinh sống ở đây đều chạy từ Campuchia sang. Năm nay đã bước qua tuổi 65, già làng Rơ Châm Hloắc nhớ lại: Năm 1976, trước họa diệt chủng của Pol Pot, nhiều người dân ở huyện Oyadav (tỉnh Rattanakiri, Vương quốc Campuchia) đã sang đây lánh nạn và trở thành những công dân Việt Nam.

Già làng Rơ Châm Hloắc vẫn không thể quên được sự tàn ác của bọn Pol Pot đã gieo rắc lên đồng bào, quê hương mình: "Năm ấy, bọn Pol Pot tràn đến, đốt nhà, giết người, tôi và 35 hộ gia đình chạy thoát sang bên này biên giới, được nhân dân và bộ đội Việt Nam giúp đỡ, cưu mang. Khi bọn diệt chủng bị tiêu diệt, một số người đã trở về làng cũ, nhưng nhiều người vẫn ở lại đây vì coi đó là quê hương của mình rồi”.

Giờ đây, vợ chồng ông Rơ Châm Hloắc luôn kể cho mọi người nghe về những năm tháng gian khó ấy. “Là già làng nên mình luôn bảo mọi người rằng, năm xưa nếu không có người dân nơi đây và chính quyền địa phương giúp đỡ thì mình đã bị bọn Pol Pot giết rồi”- ông Hloắc tâm sự.

Là hai quốc gia láng giềng, cùng uống chung dòng nước mát Mekong, vận mệnh của hai dân tộc không thể tách rời nhau, đó là chân lý từ thực tiễn lịch sử hai nước...