Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 18/05/2022 05:10 GMT+7

Đường thơ - đường chiến dịch 30-4

Biên phòng - Có thể nói, người lính ra trận mang theo tâm hồn lãng mạn, lý tưởng cách mạng và con đường hành quân chiến dịch là con đường thơ nâng bổng tâm hồn chiến sĩ vượt qua bao gian khó, hy sinh. Kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đọc lại những câu thơ, trường ca trong hành trình thơ hướng về mùa Xuân năm 1975, càng cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc chiến vĩ đại của dân tộc.

Chiến sĩ giải phóng quân. Ảnh minh họa

Những câu thơ hay nhất, cảm động nhất trong trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh là viết về hậu phương. Ở đó có người mẹ: “Chiến dịch này ăn cơm không phải độn/ Mừng thì mừng mà thương mẹ biết bao nhiêu” và từ một người chị ở hậu phương: “Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy/ Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc”, đến một người vợ trong vùng địch tạm chiếm: “Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”.

Có lẽ, không có sự hy sinh nào bằng sự cô đơn: “Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra/ trong giỗ tết họ hàng nội ngoại/ Bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cút một mình/ Những đêm trở trời trái gió/ Tay nọ ấp tay kia/ Súng thon thót ngoài đồn dân vệ”. Chiến tranh không chỉ là sự phân chia chiến tuyến của sự hy sinh đối diện trực tiếp ngoài mặt trận dễ nhận thấy, mà chiến tranh ngay ở trong số phận của từng con người của những ranh giới mỏng manh mà vượt qua đó còn khó hơn nhiều trong sự thầm lặng, mất mát vô danh.

Nhà thơ Thanh Thảo cũng khá nổi tiếng với trường ca “Những người đi tới biển” là một hành trình từ hậu phương vào mặt trận, từ Trường Sơn xuống bưng biền kênh rạch Nam Bộ. Ở nơi địa bàn khắc nghiệt này mà người dân đã phải gài những bãi mìn ngay trước mảnh sân nhà kề cận cái chết. Những người lính mà: “Những năm/ Chiếc áo dính chặt vào thân bạc màu ngắn nhanh rồi rách/ Những năm/ Một chiếc áo có thể sống lâu hơn cuộc đời”.

Tổ quốc với người lính trong thơ Thanh Thảo thật thiêng liêng và giản dị, nhưng không giản đơn mà qua bao trăn trở mới có thể: “Chúng tôi đi không tiếc đời mình/ Nhưng tuổi hai mươi ai mà không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn gì Tổ quốc/ Cỏ sắc mà ấm quá phải không em”. Còn Tổ quốc trong thơ Hữu Thỉnh thì “Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được/ Chỉ một góc sim thôi dù chỉ góc sim cằn/ Tổ quốc sẽ ra sao Tổ quốc”. Với người lính, Tổ quốc gần trong gang tấc từ ngọn cỏ, gốc sim thân thiết biết chừng nào.

Tổ quốc hiện lên từ hình ảnh người mẹ cảm động biết bao trong thơ Hữu Thỉnh: “Mẹ nén đau giấu tờ báo tử/ sáng mai lại tiễn con lên đường nhập ngũ/ Bốn ngàn năm đất nước mấy khi yên” để làm nên đại thắng mùa xuân bắt đầu từ những hy sinh thầm lặng vô giá như thế.

Cũng trong những giây phút lịch sử ấy, nhà thơ Hữu Thỉnh đã có một tứ thơ khá độc đáo. Qua góc độ ống kính tâm hồn của một nhà báo, ông đã chớp được cận cảnh “Bữa cơm chiều trong Dinh Độc Lập” - một bữa cơm dã chiến mà: “tăng vẫn dàn theo đội hình chiến đấu/ Xích còn vương đỏ đất Phan Rang/ vừa mới vào mâm anh nuôi bận/ Chia thêm tổng thống ngụy đầu hàng”.

Để có được bữa cơm của ngày hòa bình đầu tiên đó, các anh trong trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh đã thần tốc, táo bạo vượt qua trùng điệp: “Con đường Hồ Chí Minh/ Chiến dịch Hồ Chí Minh/ Thành phố Hồ Chí Minh/ Chiến sĩ vừa đi vừa hỏi/ chiến sĩ vừa đi vừa giục/ chiến sĩ vừa đi vừa hát/ Cành ngụy trang qua gió thổi ba miền”.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu trong “Trường ca sư đoàn” của mình có những câu thơ nghẹn thắt trong ngày vui chiến thắng: “Nếu hôm nay tất cả về đông đủ/ Sư đoàn tôi thành mấy sư đoàn”. Đã có bao nhiêu đồng đội nằm dọc chiến trường, bao lớp thay quân lính mới. Ông viết: “Tên tuổi chúng tôi rải rác khắp rừng cây/ Rải rác dòng tên nơi đèo cao vực thẳm/ Người hy sinh và người còn sống/ Cũng đứng trong đội ngũ sư đoàn”. Đó cũng chính là điểm đến của một hành trình lâu dài của dân tộc từ vũ khí thô sơ đến những binh đoàn thần tốc xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập từ: “Hôm trước còn bắn tỉa/ Ngày sau giàn trận chính quy/ Đến trận bão hiệp đồng cả nước/ Những sư đoàn như gió lốc bay đi” (Phạm Ngọc Cảnh - Sư đoàn).

Và thật cảm động biết bao khi nhà thơ Phùng Khắc Bắc viết trong “Ngày hòa bình đầu tiên”: “Anh về quê không mang súng/ Mẹ giục: ăn đi, con!/ Hòa bình trong canh cua mồng tơi, cà/ Và/ Mùi ổ rơm”. Ôi cái mùi ổ rơm quê kiểng, rơm rạ của hồn quê mà nhà thơ Nguyễn Duy đã từng viết: “Cái ổ rơm bọc tôi như kén bọc tằm/ Tôi thao thức trong mùi mật ong của ruộng”. Sức mạnh của chiến thắng từ cội nguồn sâu thẳm thế đó. Và tâm thức Việt của người lính cũng bắt đầu như thế đó.

Bên cạnh những khúc ca hào hùng viết về ngày 30-4 thì nhà thơ Đinh Thị Thu Vân lại viết về cuộc “Lột xác” đổi đời của mình bắt đầu từ: “Nếu không có ngày ba mươi tháng tư”. Chị viết thật chân thành da diết: “Em đổi những bé mọn của tâm hồn lấy lắm ngọt êm/ Lòng vẫn nghĩ: tháng tư làm nhân chứng/ Ôi nhân chứng bao dung, nhân chứng vô cùng người lớn/ Làm thế nào em có thể đền ơn!/ Tháng tư ơi xin đẹp mãi tâm hồn”.

Ngày 30-4 là một dấu mốc quan trọng, một điểm tựa tinh thần lớn lao, một bệ phóng cho tương lai. Đường đến Sài Gòn 30-4 qua bao nhiêu cung đường, qua bao giới hạn, qua bao địa hình, qua bao số phận. Và thơ - chính là những va chấn tâm hồn ghi lại trung thực nhất những khoảnh khắc bất chợt, những lan tỏa bất ngờ, những cung bậc thiết tha. Khi là một tiếng reo vui, khi là một quặn thắt nén lòng, khi là những rưng rưng trong nụ cười và nước mắt.

Thơ chính là phiên bản âm tính sâu sắc và cảm động, là những thước phim ghi lại qua ống kính tâm hồn để mãi ngân vang ngân xa đồng cảm và đồng điệu. Các nhà thơ - những người thư ký tâm hồn của thời đại đã bằng chính cuộc đời mình đo cuộc hành trình trên dây thép gai để cùng dân tộc đi đến ngày toàn thắng...

Nguyễn Ngọc Phú

Bình luận

ZALO