Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 28/09/2021 10:36 GMT+7

Dệt zèng Tà Ôi vào thời trang hiện đại

Biên phòng - Trong những ngày đầu năm mới, nhân dân huyện vùng cao biên giới A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế) hân hoan trong niềm vui khi nghề dệt thổ cẩm (zèng) của đồng bào dân tộc Tà Ôi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong niềm vui chung đó, người ta thường nhắc đến tên một người phụ nữ dân tộc Tà Ôi, đó là chị Mai Thị Hợp. Bằng tâm huyết với nghề dệt thổ cẩm truyền thống, chị đã góp phần khôi phục, phát triển nghề dệt zèng của cha ông. Bên cạnh đó, chị còn nỗ lực đưa sản phẩm dệt zèng ra thế giới, hội nhập vào dòng chảy thời trang quốc tế.

64s0_19a
 Chị Hồ Thị Hợp giới thiệu sản phẩm dệt zèng. Ảnh: Thanh Thuận

"Đánh thức" nghề dệt zèng

Trong tiếng lách cách phát ra từ những khung dệt zèng của người phụ nữ Tà Ôi cần mẫn, chị Mai Thị Hợp tâm sự với chúng tôi xoay quanh nghề dệt zèng. Người phụ nữ dân tộc Tà Ôi có dáng người nhỏ bé, gương mặt khắc khổ với nước da ngăm đen đặc trưng của tộc người bao năm sinh sống ở địa bàn có điều kiện thời tiết khắc nghiệt như huyện miền núi A Lưới ánh lên niềm vui.

Chị cho biết, chị sinh ra và lớn lên ở huyện A Lưới. Dệt zèng là nghề truyền thống có từ lâu đời của người dân tộc Tà Ôi nơi đây. Những sản phẩm từ zèng là lễ vật hoặc trang phục không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng hoặc các lễ hội quan trọng của đồng bào vùng cao A Lưới. Mỗi sản phẩm dệt zèng có giá trị về nhiều mặt, vừa là vật dụng, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt, vừa là tác phẩm nghệ thuật, thể hiện nét đặc trưng độc đáo trong kho tàng văn hóa tộc người Tà Ôi.

Thế nhưng, có một thời, do nhu cầu giảm nên nghề dệt zèng đang dần mai một. Trước thực trạng đó, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) Thừa Thiên Huế phối hợp với  huyện A Lưới thực hiện các dự án khôi phục nghề này. Chị Mai Thị Hợp là một người phụ nữ tâm huyết với nghề dệt zèng, đã có nhiều đóng góp cho việc khôi phục, phát triển nghề dệt zèng của địa phương.

Ngay từ lúc còn nhỏ, cũng như bao người con gái Tà Ôi khác, chị Mai Thị Hợp được làm quen với khung cửi, sợi bông, nhuộm sợi... và được mẹ truyền dạy cho nghề dệt zèng truyền thống. Bởi tương tự như quan niệm của người Mông cho rằng một cô gái chưa chồng phải khéo léo, đảm đang thể hiện qua việc biết dệt cho mình những tấm vải choàng, khăn quàng cổ, áo, váy. Người Tà Ôi cũng vậy. Hơn nữa, zèng còn như là một món của hồi môn cho những cô gái khi về nhà chồng.

Khi lớn lên về nhà chồng, sản phẩm zèng đầu tiên của cô gái Mai Thị Hợp cũng được mẹ dành làm của hồi môn. Hằng ngày, sau những giờ lao động nhọc nhằn trên nương rẫy, chị Hợp lại làm bạn với chiếc khung dệt zèng. Chị tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để dệt, nhưng cuộc sống gia đình vẫn không sao khấm khá hơn được. Từ bao đời nay, với người Tà Ôi, dệt zèng chỉ phục vụ nhu cầu may mặc trong gia đình hay mang đi đổi nhu yếu phẩm của người dân trong bản.

Do đó, tuy người Tà Ôi có nghề dệt thổ cẩm truyền thống đặc sắc, nhưng cuộc sống vẫn túng thiếu, khó khăn. Điều đó khiến chị Hợp suy nghĩ rất nhiều. Chị nuôi quyết tâm mang sản phẩm dệt zèng xuống miền xuôi bán thử xem sao. Ý tưởng khôi phục lại nghề dệt zèng cũng được nung nấu trong chị. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, rất nhiều người đã bỏ nghề dệt zèng từ lâu, lớp trẻ thì nhiều người không biết. Vì vậy, muốn khôi phục nghề, điều đầu tiên phải tập hợp những người có tay nghề cao, sau đó dạy nghề cho những người chưa biết. Khi chị đưa ra ý kiến đó, ban đầu vấp phải sự phản đối kịch liệt của gia đình, vì luật tục từ ngàn đời nay của người Tà Ôi là không truyền nghề cho người khác, chỉ những người trong gia đình truyền cho nhau. Nhưng rồi, cuối cùng người trong gia đình cũng phải xuôi theo chị, khi chị nêu ra lý lẽ về sự biến mất của nghề dệt truyền thống, nếu mai này không ai biết dệt zèng.

Nghĩ là làm, chị Hợp khắc phục khó khăn, ngày đêm băng rừng lội suối, vừa vận động chị em phụ nữ thạo nghề trở lại với dệt zèng, phát huy bản sắc của nghề dệt zèng truyền thống, vừa truyền nghề cho người chưa biết. Năm 2004, chị Hợp đứng ra thành lập tổ dệt cho chị em có hoàn cảnh khó khăn tại xã A Đớt, gồm 5 thành viên, với mong muốn khôi phục nghề dệt truyền thống. Hàng ngày, chị tận tình chỉ dẫn cho chị em từng đường dệt, cách đính hạt cườm vào sản phẩm...

Sau khi gia đình chị chuyển ra thị trấn A Lưới, nơi tập trung đông dân tộc Tà Ôi, Cơ Tu, tổ dệt được nâng cấp lên thành Hợp tác xã dệt zèng - thổ cẩm thị trấn A Lưới. Đến nay, hợp tác xã đã có 30 chị em tham gia, thu nhập bình quân mỗi người 3-4 triệu đồng/tháng. Với phụ nữ vùng cao, đây là khoản thu nhập không nhỏ, góp phần cải thiện đời sống gia đình. Ngoài zèng để may quần áo, váy còn có những sản phẩm như ví, túi xách, thảm. Trung bình một tấm zèng được bán từ 300 nghìn đồng đến 1,5 triệu đồng. Ngoài lo việc làm thường xuyên cho 30 tổ viên hợp tác xã, chị Hợp còn tạo việc làm cho gần 100 chị em ở các xã lân cận.

Đưa zèng vào thời trang hiện đại

Không chỉ tạo việc làm, nâng cao tay nghề cho chị em, chị Hợp còn sáng tạo thêm nhiều mẫu mã, họa tiết mới rồi hướng dẫn chị em làm. Để làm ra những tấm thổ cẩm đầy tính nghệ thuật đó, đòi hỏi có nhiều công đoạn, với các tiêu chuẩn khắt khe và công phu. Về chất liệu thổ cẩm, trước kia, người Tà Ôi thường trồng bông để kéo sợi, nhưng ngày nay, đồng bào thường mua sợi bông vải đã xe sẵn ở dưới xuôi. Những sợi bông được chọn lọc kỹ, xếp thành từng lọn, được cho vào nồi đồng, hoặc nồi đất loại to, nấu trong nhiều giờ liền. Khi sợi bông săn chắc lại thì vớt ra, cạo thật nhẵn, tách thành sợi nhỏ, phơi lên giàn tre cho khô ráo. Chế biến thuốc nhuộm là khâu quan trọng nhất, quyết định độ bền và giá trị màu sắc hoa văn của tấm thổ cẩm.

Theo lời chị Hợp, để bảo đảm tiêu chuẩn về độ bền của màu, cũng như để đạt được màu sắc đặc trưng của các tấm thổ cẩm, phải sử dụng các chất liệu truyền thống được tinh chế từ các loại vỏ và rễ cây rừng. Các mảng màu mà đồng bào Cơ Tu, Tà Ôi ở A Lưới ưa chuộng thường là một số màu đặc trưng như đỏ, trắng, xanh lá cây, xanh lục, vàng...

Với mong muốn thêm người biết đến dệt zèng A Lưới và giới thiệu, quảng bá sản phẩm dệt zèng đến đông đảo người dân, chị Hợp đã chủ động liên hệ tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh, hội chợ làng nghề, các festival. Trong dịp Festival nghề truyền thống Huế 2013, các nghệ nhân dệt zèng A Lưới lần đầu tiên mang khung cửi xuống phố, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trong và ngoài nước. Cũng trong dịp này, lần đầu tiên zèng A Lưới lên sân khấu thời trang qua bộ sưu tập của nhà thiết kế thời trang Minh Hạnh. Năm 2015, thổ cẩm Tà Ôi được tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế. Lần đầu tiên, các hoa hậu, người mẫu nổi tiếng xuất hiện trên sân khấu với bộ trang phục được thiết kế từ chất liệu thổ cẩm Tà Ôi.

Để ghi nhận công lao, tâm huyết của chị Hợp với việc giữ gìn và phát huy nghề dệt zèng Tà Ôi, chị Mai Thị Hợp đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2015.

Tiếp đó, thổ cẩm Tà Ôi còn được tạo điều kiện tham gia trình diễn ở Nhật Bản (nhân dịp nhà thiết kế Minh Hạnh được trao giải thưởng Fukuoka). Chị Mai Thị Hợp chính là người đại diện cho phụ nữ Tà Ôi tham gia thao diễn nghề tại Trung tâm hội nghị quốc tế Fukuoka.

Chỉ với khung dệt đơn sơ với đôi bàn chân làm điểm tựa, thông qua đôi bàn tay khéo léo của mình, chị Mai Thị Hợp đã biến những cuộn sợi thành tấm thổ cẩm tuyệt vời, trước sự thán phục của người xem. Những cố gắng bền bỉ của chị Hợp và những thợ dệt A Lưới đã được nhà thiết kế Minh Hạnh đánh thức, làm cho zèng trở nên sống động, quyến rũ, chen chân được vào thị trường may mặc, tiêu dùng hiện nay, được hoan nghênh ở nhiều nước Âu, Á, đặc biệt là Nhật Bản.

Nhằm tôn vinh và góp phần gìn giữ những giá trị độc đáo của nghề dệt zèng, Bộ VH-TT-DL đã công nhận nghề dệt zèng của đồng bào Tà Ôi là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Lễ đón Bằng công nhận được UBND huyện A Lưới phối hợp Sở VH-TT-DL tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức trọng thể ngày 16-1 vừa qua như một phần thưởng lớn đối với chị Mai Thị Hợp và những người thợ dệt zèng ở A Lưới. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện miền núi A Lưới tiếp tục bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị nghề dệt zèng. Hy vọng, với việc được công nhận, di sản này sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người dân; đồng thời, có thể khai thác làm sản phẩm du lịch đặc trưng thông qua các tour, tuyến du lịch nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa, lịch sử làng nghề... góp phần giảm nghèo cho đồng bào dân tộc ở A Lưới.

Nguyên Thanh

Bình luận

ZALO