Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 22/01/2022 12:37 GMT+7

Để tình đoàn kết mãi xanh

Biên phòng - Sau 17 năm kể từ ngày cặp bản Ka Tăng (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam) và Đen Sa Vẳn (huyện Mường Noòng, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt, Lào) tổ chức kết nghĩa, đến nay, mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới hết sức ý nghĩa này đã lan rộng trên cả ba tuyến biên giới với những hiệu quả đáng ghi nhận. Với 103 cặp cụm dân cư đồng thuận, tin tưởng và cùng nhau “kết đôi” trong tổng số 207 cặp ở 21/21 tỉnh biên giới, những người dân hồn hậu, chân thành trọn đời gắn bó với dải Trường Sơn hùng vĩ tạo nên giai điệu đẹp trong dàn hòa ca về mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt giữa Việt Nam và Lào.

Lãnh đạo tỉnh Quảng Trị trao quà cho tỉnh Sa Vẳn Na Khệt nhân dịp sơ kết 15 năm kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới giữa cặp bản Ka Tăng và Đen Sa Vẳn, năm 2019. Ảnh: Tuệ Lâm

Thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 6-7-2011 của Ban Bí thư khóa XI về “Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới”, những năm qua, Bộ Tư lệnh BĐBP đã chỉ đạo quyết liệt các hoạt động đối ngoại biên phòng. Trong đó, đặc biệt hiệu quả, ấn tượng là mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới, với khởi đầu từ biên giới Việt Nam - Lào. Thực tiễn qua nhiều lần sơ kết, tổng kết của các địa phương đã khẳng định, đây là mô hình có sức ảnh hưởng sâu rộng, thể hiện vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng trong công tác dân vận của lực lượng BĐBP và các địa phương trong tình hình mới.

Từ những thôn, bản gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa hình, thời tiết và cơ sở hạ tầng lạc hậu, núi đồi hoang hóa, đất sản xuất khô cằn và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân còn nghèo nàn, đến nay, những cặp bản kết nghĩa không chỉ là điểm sáng về phát triển kinh tế nông nghiệp, mà còn là điểm sáng văn hóa trên biên giới.

Tại 103 cặp bản trải dài từ Điện Biên đến Kon Tum (Việt Nam) và từ Phong Sa Lỳ đến Át Ta Pư (Lào) đều có sự phát triển đáng ghi nhận, tỉ lệ hộ nghèo hiện chỉ còn khoảng từ 5% đến 7%. Nhiều hộ dân có thu nhập tăng lên rõ rệt, từng bước kiên cố hóa nhà ở, chuồng trại và mua sắm đồ dùng hiện đại để phục vụ nhu cầu cuộc sống. Hoạt động hỗ trợ nhau sản xuất, trao đổi nông lâm sản được bà con thực hiện trên tinh thần “anh em một nhà”, thường xuyên nhận được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và BĐBP, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên phát triển kinh tế.

Nhớ lại ngày vui năm xưa, ông Si-thuôn Say Y-a-san, nguyên Bí thư cụm bản Đen Sa Vẳn chia sẻ: “Trước đây, dân bản nghèo lắm, người thì đói nhưng ruộng đất lại bỏ hoang. Nhờ BĐBP Việt Nam giúp đỡ, bản Ka Tăng giúp cây giống, bà con trong bản đã biết khai hoang, biết thay giống cây trồng. Đến nay, nhiều hộ đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Chúng tôi tự hào khi cặp bản của mình đã trở thành điển hình của hoạt động kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới”. Chúng tôi hiểu niềm tự hào ấy của ông, bởi suốt 17 năm ấy là biết mấy ân tình khi nhân dân hai bản sẽ như cây một cội, như người một nhà, niềm vui nhân đôi, nỗi buồn sẻ nửa, cùng nhau tự giác tham gia tự quản đường biên, mốc giới, giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới.

Điều đáng mừng nhất là đến với bất kỳ cặp bản kết nghĩa nào, cũng nhận thấy luồng không khí phấn khởi, đồng thuận, tin tưởng, ủng hộ lẫn nhau và đặc biệt là ý thức, trách nhiệm đối với chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia của bà con cũng được nâng lên rõ rệt. Nhiều địa phương và BĐBP các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào đã huy động mọi nguồn lực để hỗ trợ cho các cặp bản kết nghĩa đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình dân sinh để tạo nền tảng và động lực cho bà con vươn lên thoát nghèo, xây dựng cuộc sống mới.

Trong thành tựu chung ấy, có thể nói, vai trò của những chiến sĩ quân hàm xanh là hết sức quan trọng. Chỉ từ năm 2020 đến nay, toàn lực lượng BĐBP đã hỗ trợ nước bạn Lào gần 32 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng cho 2 cụm dân cư, 2 Nhà Văn hóa cộng đồng, 2 trường học, 3 Trạm xá hữu nghị, 15 công trình vệ sinh công cộng, 65 Nhà hữu nghị tặng các gia đình chính sách, hộ nghèo của Lào và 60 con bò giống... Đồng thời, tiếp tục nhận đỡ đầu 82 cháu học sinh Lào có hoàn cảnh khó khăn trong chương trình “Nâng bước em tới trường”. Các phòng khám quân dân y kết hợp trên dọc tuyến biên giới hai nước đã khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 6.000 lượt người, trị giá trên 1 tỷ đồng. Sự quan tâm chí tình, đầu tư thiết thực, hiệu quả ấy đã tạo nên nhiều dấu ấn tốt đẹp trong quan hệ giữa chính quyền, lực lượng chức năng và nhân dân biên giới hai nước.

Những nhà văn hóa cộng đồng được xây dựng từ tấm lòng của người lính bảo vệ biên giới đã trở thành điểm sinh hoạt hằng ngày, hằng tuần để bà con trao đổi những thông tin về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, là nơi giao lưu vào những dịp lễ, Tết và những vụ mùa thắng lợi. Những ngôi trường khang trang đã giúp cho thế hệ trẻ của Lào được học tập, vui chơi và trở thành người có ích. Những căn nhà, cụm bản hữu nghị đang ngày một nhiều hơn, hứa hẹn sẽ trở thành những thị trấn vùng biên trong tương lai... Cứ từng bước như vậy, nhân dân các dân tộc Việt Nam - Lào trên dải Trường Sơn hùng vĩ ngày một tự tin hơn trong cuộc sống, chăm chỉ lao động, hăng hái tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, chú trọng đầu tư cho con em học hành...

Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, mới thấu tỏ được ý nghĩa của mô hình cùng sự chân thành yêu thương, gắn kết của nhân dân các cặp bản kết nghĩa. Những bao gạo, gùi bắp, thùng mì tôm hay bó rau xanh, trái bí đỏ, gói khẩu trang... được các thôn, bản trao tặng nhau với tất cả nghĩa tình anh em sâu nặng. Bà con giúp nhau sạ lúa, thu hoạch hoa màu để kịp chạy lũ, cho nhau vay cây giống, con giống để tái sản xuất sau những thiệt hại do thiên tai, dịch họa gây ra. Đồng thời, cùng nhau tuân thủ nghiêm túc những quy định về xuất nhập cảnh và phòng, chống dịch bệnh của hai nước... Thiết nghĩ, những việc làm đó không chỉ đo đếm bằng vật chất, mà còn là minh chứng rõ nét nhất về tình láng giềng Việt Nam - Lào bền chặt, thủy chung sâu nặng, là quyết tâm của người dân trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh.

Cùng với thời gian và hiệu quả đã được khẳng định, tin tưởng rằng, mô hình kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới sẽ đạt được nhiều dấu ấn quan trọng hơn nữa trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào. Lợi ích vô giá mà mô hình này mang lại chính là giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng biên, giữ được tình cảm gắn bó mật thiết giữa cư dân hai bên biên giới và trên nữa là hai quốc gia, hai dân tộc. Do vậy, muốn chương trình “sống” được dài lâu, cần phải có những đề án cụ thể, có danh mục đầu tư kinh phí bảo đảm cho hoạt động này trong xây dựng ngân sách hàng năm cho các tỉnh biên giới. Song song với đó, vấn đề đầu tư kinh phí xây dựng và củng cố các công trình cộng đồng, công trình hữu nghị ở các cặp bản kết nghĩa và các xã biên giới và ưu tiên bố trí ngân sách cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới cũng rất cần được quan tâm.

Phạm Vân Anh

Bình luận

ZALO