Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 06/05/2021 02:17 GMT+7

Dấu tích thời Lê trên đất Mường Lang Chánh

Biên phòng - Thời Lê được coi là một trong những triều đại kéo dài nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Còn ít người biết triều đại này được khởi nghiệp ở một vùng núi hẻo lánh miền Tây của xứ Thanh. 

Khi đó, vào những thập niên đầu của thế kỷ 15, người anh hùng dân tộc Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh. Nhiều khả năng ông là người Mường vì chính ông đã xưng danh trong tác phẩm Lam Sơn thực lục viết năm 1431 là "Chúa Động Lam Sơn". Một số nhà khoa học cho rằng, ông là người Mường, tuy nhiên cũng còn phải nghiên cứu sâu thêm nữa. Nhưng rõ ràng ông đã khởi binh ở xứ Mường và đã tập hợp được nhiều dân tộc vùng núi Thanh Hóa theo ông, trong đó có các dân tộc ở vùng Mường Lang Chánh còn gọi là châu Lang Chánh, nay thuộc huyện miền núi Lang Chánh. Cái tài của ông là tập hợp được sức mạnh của toàn dân, kẻ sĩ đất Bắc như Nguyễn Trãi cũng kéo về tụ hội, các nghĩa quân người Mường, người Thái trong vùng cũng nô nức tòng quân.

ligx_20b-1.jpg
Đôi rồng ngoắc đuôi vào nhau trên quai chuông chùa Mèo.

Cái buổi đầu gian nan "nếm mật nằm gai", quân khởi nghĩa được bà con các dân tộc đùm bọc. Có những lúc bị giặc Minh vây hãm, lương thảo không có, phải thịt cả ngựa chiến mà ăn, chỉ dựa vào sự xả thân của Lê Lai cứu chúa, đóng giả Lê Lợi cưỡi ngựa xông thẳng vào doanh trại giặc Minh để giặc bắt. Nhờ thế, giặc tưởng đã diệt được chủ tướng và dẹp tan được nghĩa quân. Cái mẹo lừa giặc tưởng đơn giản, nhưng là cái giá của sự hành hình tàn khốc, lấy sinh mạng ra để phù nghĩa lớn. Còn gì cao quý hơn sự hy sinh của Lê Lai và bà con dân tộc xứ Thanh trong kháng chiến chống Minh?

Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã ghi khá nhiều dòng về buổi đầu gian nan và chiến công oanh liệt của Lê Lợi đều gắn với miền núi Thanh Hóa, trong đó, nổi bật nhất là vùng Mường Lang Chánh: Ngay năm đầu của cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh là năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi đã cùng các tướng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý mai phục chém được 3.000 thủ cấp, thu được nhiều khí giới rồi dời quân đến núi Chí Linh (nay chính là núi Pù Rinh, xã Giao An của Lang Chánh, khác với vùng Chí Linh của Hải Dương). Trong năm này, nghĩa quân còn đánh trận Mường Yên, thu phục được hơn trăm người. Địa danh Mường Yên cũng chính là xã Yên Nhân, phía Tây của núi Pù Rinh. Năm sau là năm Kỷ Hợi (1419), vào tháng 5, Lê Lợi và nghĩa quân lại phục kích quân Minh ở Mường Chánh, cản phá được quân giặc. Năm Canh Tý (1420), Lê Lợi lại phục kích giặc Minh bắt được hơn trăm con ngựa và chém giết quân giặc nhiều vô kể, rồi về Mường Nanh nghỉ quân (nay Mường Nanh là Mường Nang, tức xã Thịnh Nang). Thế mới biết bà con các dân tộc Mường Lang Chánh đã có công lao đùm bọc, chở che cho nghĩa quân trong buổi đầu trứng nước ra sao.

Cũng trong thời Lê, vào triều đại Lê Thánh Tông, bà con các dân tộc Mường Lang Chánh lại có thêm chiến công bảo vệ lãnh thổ. Cũng thư tịch xưa ghi lại: Vào năm Hồng Đức thứ 10 (1479), nước Lão Qua sang cướp châu Lang Chánh và đã bị quân dân thời Lê đánh bại.

Gần 600 năm trôi qua, núi Pù Rinh vẫn sừng sững như thuở nào, nhiều địa danh mà sách Đại Việt sử ký toàn thư chép lại vẫn còn vương dấu tích, tuy đã biến âm ít nhiều. Một chút xốn xang khi nghĩ về "chiến khu" xưa của Lê Lợi. Có một ngôi chùa trong vùng có tên là Đỉnh Miêu Tự, tục gọi là chùa Mèo hay chùa Chu xây trên Đồi Miêu. Bà con kể rằng, trong lúc nghĩa quân lâm vào cảnh nguy khốn, Lê Lợi đã từng đến chùa này để thắp hương khấn Phật cầu cho chiến thắng ngoại xâm. Đến khi đánh xong giặc, thấy chùa thiêng, Lê Lợi đã ra sắc chỉ đổi tên chùa Chu thành chùa Mèo như ngày nay dân trong vùng vẫn gọi. Vì thế, có thể coi ngôi chùa này cũng là một di tích hiếm hoi liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi.

Tương truyền chùa Mèo được dựng từ thời Trần, hiện nằm ở làng Chiềng Ban, xã Quang Hiến, thuộc huyện Lang Chánh. Chùa có địa thế khá chuẩn mực theo thuyết phong thủy: Có tả Thanh Long là dãy núi Pù Bằng, hữu Bạch Hổ là dãy núi Pù Rinh. Trước mặt lại có dòng sông Âm chảy ngang qua. Thế đất đẹp như vậy đã sinh ra ngôi chùa đẹp nức tiếng trong vùng, được coi là một trong 3 chùa đẹp nhất xứ Thanh một thời. Tuy nhiên, chùa Mèo xưa chỉ còn giữ lại đôi nét tàn phai của một di tích tôn giáo thuở nào. May mà gần đây, chùa được tôn tạo và lại là nơi đồng bào các dân tộc tổ chức lễ hội vào ngày mùng 6 và mùng 7 tháng Giêng hằng năm. Đông đảo nhất là dân các bản Mường quanh chùa như Mường Chếnh, Mường Khạt, Mường Bỏ, Mường Nang. Bà con kể lại rằng, chính trong xã có ngôi chùa Mèo, có địa danh Hón Oi là nơi nghĩa quân tập trận. Nay ở bản Quang Lợi trong xã vẫn giữ được cái tên làng Oi thuở nào.

Đến chùa Mèo, mới biết chùa có một chiếc chuông lớn cũng được đúc vào thời Lê, tuy muộn hơn thời Lê Lợi khởi nghĩa. Chuông khá đẹp và quý, là báu vật của vùng Lang Chánh. Có thể xếp chuông này vào loại Đại Hồng Chung, với kích thước cao 1,09m, đường kính miệng 0,5m. Đây là một tác phẩm nghệ thuật, kỹ thuật cao của thời Lê vào giai đoạn Lê Trung Hưng. Quai chuông được tạo hình đôi rồng đối xứng, đuôi ngoắc vào nhau, mũi sư tử, bờm dài, tai dơi, thân phủ vây cá, 3 móng nhọn. Đường nét đúc và chạm khắc khá nét. Chuông có 6 núm để gõ. Chiếc chuông này từ lâu đã nổi tiếng về âm thanh như trong một bài văn đã ghi lại: "Âm vang tiếng chuông có thể nói vào hàng đầu, vì nó có thể làm thức tỉnh được những cơn mê của đông đảo chúng sinh".

Đáng lưu ý, phần vai chuông được đúc nổi 8 chữ Đại tự là "Chú tạo Miêu đỉnh thiền tự Hồng Chung" (Ghi chép về việc làm chuông chùa Mèo). Niên đại đúc chuông cũng được khắc rõ ràng là vào ngày Tết cuối xuân năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (tức năm 1718). Lúc này, nước Đại Việt dưới triều Lê, do vua Lê Dụ Tông trị vì.
fk4i_20a-1.jpg
Chuông chùa Mèo ở xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, Thanh Hóa.

Phần thân chuông lại được chạm khắc chữ trên 4 mảng. Qua những dòng chữ hiếm hoi này, các nhà khoa học mới thấy được ở vùng chiến khu xưa, có sự đồng lòng cao của bà con các dân tộc Lang Chánh trong việc hưng công, xây chùa, đúc chuông. Minh văn trên chuông ghi việc góp công là của "đông đảo bà con ở nhiều bản hội trong xứ Thanh Hoa" (Thanh Hoa là tên gọi xưa của Thanh Hóa). Đó là đồng bào dân tộc ở động Khang Chánh, động Lương Sơn, châu Lang Chánh, quan Thổ Tù... Cũng lại có sự góp công của người Việt dưới đồng bằng ở thôn Trung Hòa, xã An Lãng, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên (nay là huyện Thiệu Hóa).

Đúc chuông là sự kiện lớn trong cả một vùng, lại càng là sự kiện quan trọng nhất đối với vùng núi. Để đúc được chuông chùa Mèo, cần có tiền của và công sức của nhiều tầng lớp nhân dân. Những dòng ghi trên chuông đã cho thấy sự quần tụ của nhiều dân tộc, nhiều tầng lớp từ nhà sư, quý tộc, thổ tù cho đến nhân dân góp công: Các "tăng tử trụ trì", một ông cai đội, một ông "quan Mai Hầu". Một điều đáng chú ý là trong lễ hưng công đúc chuông, vai trò của người mẹ được nhắc đến nhiều. Ví dụ như mẹ Phạm Thị Minh, con trai là thổ tù, mẹ Trịnh Thị Tố có con trai là quan chức đồng tri phủ... Đó cũng là một cách vinh danh các người mẹ có con thuộc dạng chức sắc trong vùng.

Bài minh văn trên chuông chùa Mèo cũng cho thấy sự liên kết giữa các bản làng miền xuôi và miền núi của xứ Thanh vào đầu thế kỷ 18: Đúc chuông có sự tham gia của dân Mường Lang Chánh và dân vùng xuôi Thiệu Hóa. Sự liên kết này chứng tỏ vào thời Lê không có sự phân biệt miền xuôi và miền ngược, mọi miền đều hòa đồng để cùng lo toan việc chung. Điều này gợi nhớ đến tục kết Chạ giữa các làng Mường và làng Việt có từ xa xưa, sự di cư hay xen cư giữa các tộc người ở vùng Thanh Hóa vẫn chung sống hết sức thanh bình, đùm bọc lẫn nhau. Ngay xã Quang Hiến ngày nay, vẫn quần tụ nhiều dân tộc mà người Mường chiếm chủ thể (60%), người Thái (30%), người Việt (10%). Có lẽ từ trước đến nay, một vùng đa dân tộc vẫn chung sống với nhau trên cùng một mảnh đất như thế. Và chính người anh hùng dân tộc Lê Lợi đã hiểu rõ điều này để quần tụ họ làm nên sức mạnh vô địch, chiến thắng quân Minh trong 10 năm.

PGS.TS Trịnh Sinh

Bình luận

ZALO