Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 25/09/2022 04:05 GMT+7

Danh tướng biết nhiều ngoại ngữ

Biên phòng - Trần Nhật Duật (1255-1331) là danh tướng đời Trần. Ông là người anh hùng cầm quân đánh thắng quân Mông - Nguyên trong trận Hàm Tử. Ngoài danh vị là tướng lẫy lừng trận mạc, Trần Nhật Duật còn là một nhà chính trị, ngoại giao, có công trong việc xây dựng đất nước. Ông học nhiều ngoại ngữ, am hiểu phong tục tập quán các nước láng giềng. Chính việc hiểu biết nhiều ngoại ngữ đã giúp cho ông đạt nhiều thắng lợi trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao và quân sự.

Là con thứ sáu của vua Trần Thái Tông, tục truyền khi mới sinh ra, ở hai cánh tay Trần Nhật Duật có chữ "Chiêu Văn Đồng Tử", nét chữ rõ ràng, đến khi lớn lên thì mới mất đi. Vì vậy, ông được Trần Thái Tông phong tước là Chiêu Văn Vương. Từ thuở nhỏ, ông đã theo học võ nghệ, hiểu biết các binh pháp; chăm chỉ theo học "Thi thư", tinh thông đạo giáo, có tiếng là người học rộng. Ông lại rất ham thích các thứ tiếng nước ngoài. Ông thấy rằng với việc hai nước Đại Việt và Trung Hoa tuy dùng chung một chữ viết, nhưng lại phát âm khác nhau nên không hiểu được tiếng nói của nhau. Vì thế ông thường ra khỏi hoàng cung, giao du với những lái buôn người Tống sang nước ta để buôn bán và những nhà sư người Tống trụ trì ở các chùa. Đối chiếu cách đọc chữ Hán với cách phát âm của người Tống và qua thực tế, Trần Nhật Duật nói được tiếng Trung Hoa như người Tống, đến nỗi chính người Tống cũng không phân biệt được ông là người Việt hay người Tống!

Học được tiếng Trung Hoa, Trần Nhật Duật cũng học tiếng nói của người nước Đại Lý, Kim Xỉ (là những nước ở vùng Vân Nam thuộc Trung Quốc ngày nay). Ông cũng học tiếng Chiêm Thành thông qua những binh lính và quan lại Chiêm Thành bị bắt về nước ta từ thời Lý và đầu thời Trần. Ông còn biết được tiếng nước Sách Mã Tích (Tu Masik thuộc nhóm Mã Lai Đảo)... Ông nhận thức rất rõ là tiếng nói của nước nào thì gắn liền với phong tục, tập quán của nước đó, vì vậy không thể chỉ học tiếng mà không biết đến văn hóa của nước mình học tiếng. Còn đối với tiếng của các dân tộc ít người ở miền núi trong nước như tiếng Thái, Mường, Tày, Nùng, Dao... thì không tiếng nào mà ông không biết. Thật hiếm có người Việt Nam nào ngày xưa lại biết nhiều thứ tiếng như ông. Chính việc biết nhiều thứ tiếng đã giúp cho ông thuận lợi và thành công trong các hoạt động của mình.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1280, dưới thời vua Trần Nhân Tông, nước Đại Việt đang phải chuẩn bị đối phó với cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Mông - Nguyên thì một tù trưởng đồng bào thiểu số người Man ở vùng Đà Giang là Trịnh Giác Mật cầm quân nổi lên chống lại triều đình. Vua sai Trần Nhật Duật đem quân đi dẹp, tuy nhiên, ông đã không dùng đến lực lượng quân sự. Để các đạo quân ở ngoài xa, một mình cùng 5 - 6 tiểu đồng đi thẳng vào trại của người Man. Quân sĩ e ngại ngăn lại, sợ Trần Nhật Duật bị người Man giết hại, ông bèn nói: "Ta biết tiếng nói người Man, ta hiểu phong tục tập quán của họ, ta sẽ nói họ đều chịu ơn của triều đình, đều là con dân trong một nước, trước sự xâm lấn của giặc Nguyên, phải cùng nhau họp sức đánh đuổi. Nhất định họ sẽ nghe ra lời ta nói, còn nếu như họ không nghe, có giáo giở thì triều đình sẽ còn nhiều vương khác, lo gì". Khi ông đến trại thì quân của Trịnh Giác Mật bao vây mấy chục vòng, đều cầm gươm và thương, hướng vào người ông. Tù trưởng Trịnh Giác Mật mời ngồi. Ông đã cùng với Trịnh Giác Mật trò chuyện bằng tiếng Man, những người đứng hầu xung quanh cũng đều hiểu được lời giải thích về ơn của triều đình với các người miền thượng du. "Ông đã ăn cơm bằng tay và uống nước bằng mũi cùng với người Man. Họ thích lắm và tỏ lòng kính phục vô cùng". Sau khi ông về doanh trại, Trịnh Giác Mật đã đem cả gia quyến đến xin quy phục triều đình. Ông đã đưa gia quyến của Giác Mật về Thăng Long vào ra mắt vua, được vua khen ngợi và cho về lại quê quán để cai trị dân chúng. Như vậy là nhờ chính sách mềm dẻo, cùng với việc biết tiếng nói và phong tục của người Man nên Trần Nhật Duật đã không phải đổ máu mà thu được cả vùng Đà Giang.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược lần thứ hai, Trần Nhật Duật được phân công chặn đánh quân Nguyên từ Vân Nam kéo xuống, ông được lệnh trấn thủ lộ Tuyên Quang, giữ trại Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái). Trong đội quân của Trần Nhật Duật có nhiều người Tống, trong só đó có đạo sĩ Hứa Tông Đạo, người ở Phúc Châu thuộc lộ Phúc Kiến. Bài minh khắc trên chuông Thông Thánh Quán ở Bạch Hạc năm Đại Khánh thứ 8 (1321) ghi rõ: "Cuối mùa đông năm Giáp Thân, giặc Bắc đến xâm lược, bấy giờ Khai Quốc Vương (Trần Nhật Duật) trấn thủ các lộ Tuyên Quang... vào ngày thượng nguyên (rằm tháng Giêng) năm Ất Dậu (20-2-1285), ở sông Bạch Hạc đã làm lễ cắt tóc tuyên thệ, thề với thần là dốc hết lòng trung quân...". Bài minh cũng ghi rõ đạo sĩ Hứa Tông Đạo là người hương Thái Bình, huyện Phúc Thanh, Phúc Châu, lộ Phúc Kiến theo thuyền đến Đại Việt từ năm 1276.

Sở dĩ nhiều quân lính Tống chiến đấu dưới ngọn cờ của ông để chống lại quân Mông Cổ chính là bởi ông thông thạo tiếng nói của họ và biết được phong tục tập quán của người phương Bắc. Ông đã giải thích cho binh lính và quan lại nhà Tống rằng cả hai nước cùng có kẻ thù chung là quân xâm lược Mông Cổ. Binh lính Tống vẫn ăn mặc quần áo của người Tống. Chính vì vậy nên Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc (khi chưa đầu hàng Mông - Nguyên) tâu lên vua Trần rằng Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật ở Tuyên Quang "đã làm nội ứng ở vùng thượng du, gọi giặc vào". Đạo quân của Trần Nhật Duật đã giao chiến với quân Mông Cổ do Nạp Tốc Lạt Đình kéo xuống, sau đó, để bảo toàn lực lượng đã rút lui về Bạch Hạc rồi về đến chỗ vua Trần đóng quân ở phủ Thiên Trường. Khi quân của Trần Nhật Duật chiến đấu chống quân Nguyên ở trận Hàm Tử, có cả binh lính người Tống tham gia nên Thượng hoàng Trần Thái Tông đã phải nhắc nhở các tướng Trần Quốc Toản và Nguyễn Khoái biết là trong quân của Trần Nhật Duật có người Tống, cũng ăn mặc và nói tiếng giống người Thát Đát (quân Mông Cổ), vì thế không thể đánh nhầm và phải biết phối hợp. Trong chiến đấu, quân Mông Cổ thấy trong hàng quân của Đại Việt có cả người Tống nên càng lo sợ, không biết rõ lực lượng của Đại Việt có bao nhiêu và cũng sinh nghi ngờ giữa các đạo quân Mông Cổ, đạo nào là của Đại Việt. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Nhà Tống mất nước, có người sang quy phục nước ta, Nhật Duật đã dung nạp. Trong bọn ấy có Triệu Trung, Nhật Duật cho làm gia tướng; cho nên công đánh giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả".

Như vậy, từ việc biết nhiều thứ tiếng nước ngoài, Trần Nhật Duật đã thu phục được binh lính nước ngoài chiến đấu trong đội ngũ của mình, góp phần làm nên những thắng lợi quân sự mà sử sách đã ghi nhận công lao của ông. Cũng do ham học tiếng nước ngoài nên ông đã góp phần đáng kể trong quan hệ với các nước láng giềng như Trung Hoa, Chiêm Thành, Ai Lao, củng cố tình hữu nghị và hoà bình giữa các nước. Nhờ hiểu biết nhiều thứ tiếng của các dân tộc ít người vùng núi nên Trần Nhật Duật đã góp phần ổn định tình hình chính trị trong nước, củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em trên đất nước Đại Việt để đối phó với giặc ngoại xâm.

Năm 1302, Trần Nhật Duật được phong Thái úy Quốc công, giúp vua trông coi việc nước. Sau đó ông được thăng chức Tá thánh Thái sư, tước Đại vương. Triều đình có việc gì khó, ông đều giải quyết. Thái sư Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật mất ngày 15 tháng Chạp năm Canh Ngọ (tháng 1 năm 1331). Ông được trăm họ thương tiếc lập nhiều đền thờ, có tới 30 nơi ở Nam Định. Ở Thanh Hóa, dọc theo phòng tuyến cũ, nơi ông chống quân Toa Đô có 12 đền thờ. Tại đền thờ ông ở làng Văn Trinh (Quảng Xương, Thanh Hóa) còn nhiều câu đối ca ngợi ông, trong đó có đề tặng của vua Hiến Tông:

"Tứ triều tam lĩnh trấn
Cửu tích lũy truy phong".

Câu đối nói lên công trạng của ông qua bốn triều vua ở ba miền đất trọng yếu (Đà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa).
Đặng Việt Thủy

Bình luận

ZALO