Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 18/04/2021 06:52 GMT+7

Đảm bảo và thúc đẩy quyền của các dân tộc thiểu số

Biên phòng - Ở Việt Nam, miền núi và các dân tộc thiểu số (DTTS) luôn là thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận thức rõ và giải quyết các nhiệm vụ mới trên nhiều lĩnh vực tại vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc, bảo đảm các quyền của các DTTS có ý nghĩa hết sức quan trọng. Liên quan đến vấn đề này, phóng viên báo Biên phòng đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quyền con người vùng dân tộc và miền núi.

ipzm_7a
Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương thăm và làm việc tại Văn phòng ActionAid Việt Nam - một tổ chức quốc tế chống đói nghèo có mặt tại hơn 40 quốc gia.

PV: Được biết, quyền của DTTS là một trong những quyền cơ bản của con người, được các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận và xếp trong nhóm các quyền dân sự - chính trị. Ở nước ta, dưới góc độ pháp lý, khái niệm "quyền DTTS" được hiểu như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương: Khái niệm "quyền DTTS" được hiểu trên cả ba phương diện: Quyền bình đẳng giữa các DTTS với dân tộc đa số, đồng thời, đảm bảo các chính sách nhằm phát triển các DTTS; Quyền bình đẳng giữa các DTTS với nhau, đồng thời có chính sách đối với các dân tộc rất ít người, các dân tộc sống trong điều kiện đặc biệt khó khăn; Quyền của người DTTS tức là, ngoài quyền công dân, người DTTS còn được Nhà nước hỗ trợ bằng các chính sách để phát triển con người.

Dưới góc độ pháp lý về quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện rất rõ trong nội dung Hiến pháp 2013, theo đó, toàn bộ chương II quy định về quyền con người, trong đó có quyền của các DTTS.

PV: Thưa ông, giống như hầu hết quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam cũng có những nhóm thiểu số không chỉ là những nhóm dân tộc có số lượng người ít hơn dân tộc đa số, mà còn thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ. Vậy, quyền của các DTTS trong pháp luật Việt Nam được xem xét trên những khía cạnh nào?

Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương: Có thể nói, tại Việt Nam, trong hệ thống pháp luật, cũng như trong các chính sách cụ thể, khi nói về quyền các DTTS đều quan tâm đến cả khía cạnh bảo tồn, phát huy bản sắc tộc người, cả tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cả bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết riêng của các dân tộc…

Trên thực tế từ trước đến nay, để thực hiện quyền bình đẳng và phát triển đồng đều giữa các dân tộc, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc nói chung, đồng bào DTTS nói riêng. Các chính sách này bao quát hầu hết các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin…, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để huy động nguồn lực và tập trung thực hiện có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở vùng DTTS.

PV: Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, Tiến sĩ có nêu ra một vấn đề đáng quan tâm là hiện nay, điều kiện tiếp cận thông tin của đồng bào ở vùng dân tộc và miền núi nói chung còn rất hạn chế. Thực trạng này có ảnh hưởng như thế nào đối với việc thực hiện quyền con người vùng dân tộc và miền núi?

Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương: Đối chiếu với Luật tiếp cận thông tin, tôi có thể nêu ra một số rào cản tiếp cận thông tin của người DTTS hiện nay. Thứ nhất, về ngôn ngữ, hiện có gần 21% số người DTTS tuổi 15 trở lên chưa biết đọc, biết viết hoặc giao tiếp bằng tiếng phổ thông. Những dân tộc có tỷ lệ này cao gồm: La Hủ: 65,6%, Lự: 57,2%, Mảng: 56,2%, Mông: 53,4%, Cơ Lao: 50,2%, Hà Nhì: 49,5%, Lô Lô: 45,6%… Do đó, thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhiều người dân chưa thể tiếp cận được. Tôi có thể đưa ra một dẫn chứng: Theo một kết quả khảo sát mới đây, nguồn thông tin về các biện pháp tránh thai mà người dân tiếp cận được chỉ đạt ở mức 8,2%.

Thứ hai, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thông tin, truyền thông còn nhiều yếu kém. Hiện có khoảng 35% số hộ đồng bào chưa nghe được Đài Tiếng nói Việt Nam, 12% chưa được xem truyền hình. Những dân tộc có tỷ lệ hộ dân được tiếp cận Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc Đài Phát thanh tỉnh, huyện thấp là Ơ Đu (6,7%), Mảng (11,6%), Khơ Mú (20,1%), Kháng (21,9%), La Hủ (24,8%), La Ha (25,6%), Bru Vân Kiều (28,2%), Cống (31,9%), Lô Lô (33,9%). Một số dân tộc có tỷ lệ xem được Đài Truyền hình Trung ương hoặc đài truyền hình địa phương thấp dưới 50% là Mảng (37,7%), La Hủ (42,3%), Lô Lô (44,6%), Khơ Mú (56,4%). Ở lĩnh vực văn hóa, thông tin, toàn quốc hiện có 37,5% số thôn, bản chưa có nhà văn hóa; 42,8% số thôn, bản chưa có loa phóng thanh.

Thứ ba, điều kiện đời sống của người dân còn nhiều khó khăn. Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ DTTS ở nhà tạm hiện chiếm đến 15,3%, cao hơn so với mức trung bình 9,6% của cả nước...

Có thể nói, những rào cản đó là những trở ngại lớn về quyền phát triển của các DTTS, chính vì vậy mà vùng DTTS luôn là vùng nghèo nhất của cả nước.

PV: Thực tế cho thấy, hiện nay, nhận thức của các cấp, trong đó có cả cấp chiến lược về đồng bào DTTS chưa thật sự đầy đủ, thậm chí còn nhiều vấn đề chưa đúng. Theo Tiến sĩ, "rào cản" này có ảnh hưởng như thế nào trong việc thực hiện quyền con người vùng dân tộc và miền núi?

Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương: Hiện nay, vẫn còn không ít người, trong đó có cả cán bộ ở cấp chiến lược, thậm chí cả anh em làm công tác báo chí, truyền thông chưa có nhận thức đầy đủ và thấu đáo về đồng bào DTTS. Đông đảo bà con người DTTS rất không đồng tình khi một loạt các vấn đề mang tính tiêu cực của xã hội thường được gán cho người DTTS, chẳng hạn như tệ nạn nghiện và buôn bán ma túy, phá rừng, di cư tự do, nghiện rượu, lười nhác, ỷ lại… Trong lĩnh vực văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, nhiều người miền xuôi cũng hiểu sai thuần phong, mĩ tục của người miền núi. Có thể nêu ví dụ: Những từ như "đâm trâu", "chợ tình" theo nghĩa đen hoàn toàn xa lạ với văn hóa các tộc người… Tôi cho rằng những nhận thức lệch lạc, có lúc đã trở thành định kiến này làm cho cách tiếp cận xây dựng chính sách cũng như tổ chức thực thi chính sách chưa tạo được sự đồng thuận trong cộng đồng các DTTS.

PV: Theo ông, trong công cuộc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, Đảng, Nhà nước cần phải làm gì để đảm bảo và thúc đẩy quyền của các DTTS ở Việt Nam?

Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương: Theo tôi, cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện hệ thống các giải pháp, phải xác định làm kiên trì, lâu dài, nhưng trước mắt nên tập trung vào nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí phân định tỉnh nghèo, huyện nghèo, xã nghèo, thôn, xã đặc biệt khó khăn, để áp dụng các định mức hỗ trợ giảm nghèo công bằng giữa các địa phương.

Cùng với đó, cần tổng hợp, rà soát hệ thống chính sách hiện hành nhằm loại bỏ các chính sách trùng lắp, chồng chéo; bổ sung, sửa đổi các chính sách không còn phù hợp với tình hình thực tế, giảm các chương trình mục tiêu quốc gia, giao các chính sách cho bộ, ngành quản lý theo chức năng. Hợp nhất các chính sách dân tộc của từng bộ, ngành quản lý thành một văn bản chung. Nghiên cứu, xây dựng các chính sách mới phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn tới; tập trung xây dựng các mô hình phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc thù từng vùng. Trên cơ sở kết quả rà soát, nghiên cứu, xây dựng chính sách đa mục tiêu, dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, theo đặc thù từng vùng, miền.

Việc xác định rõ chính sách hỗ trợ phát triển và chính sách bảo trợ - xã hội cho từng đối tượng và áp dụng hệ số ưu tiên cho vùng khó khăn trong việc phân bổ nguồn lực thực hiện chính sách cũng cần được triển khai. Đặc biệt, cần tăng cường phân cấp mạnh cho địa phương và tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho vùng DTTS; tiếp tục giải quyết nhu cầu thiết yếu của đồng bào như đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, đào tạo nghề và tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cho vay tín dụng; phát triển nguồn nhân lực; tăng khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân về y tế, giáo dục, văn hóa và môi trường. Hạn chế tình trạng di cư tự do và những ảnh hưởng xấu do biến đổi khí hậu tại vùng dân tộc và miền núi. Có chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững.

Bên cạnh đó, cũng cần thể chế quan điểm ưu tiên cho chính sách dân tộc, đồng bào DTTS, vùng dân tộc và miền núi thành luật, có những quy chuẩn cụ thể, làm cơ sở xác định mức độ ưu tiên trong từng chính sách, nhất là các chính sách do các bộ, ngành quản lý. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế điều phối và giám sát sự phối kết hợp giữa các bộ, ngành trong việc hoạch định, xây dựng, phân bổ ngân sách và hướng dẫn thực hiện chính sách dân tộc. Một vấn đề quan trọng nữa là phải tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu, nắm chắc và chủ động tích cực tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách, nâng cao ý thức tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững của người dân…

PV: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!

Thái Bình (Thực hiện)

Bình luận

ZALO