Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ sáu, 24/09/2021 07:43 GMT+7

Đá và những cánh đồng thổ canh độc đáo

Biên phòng - Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Giang, có diện tích khoảng 2.356 km2 trải rộng trên địa bàn 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ; nằm trên độ cao trung bình từ 1.000 đến 1.600m so với mặt nước biển với ba phần tư diện tích là đá, quanh năm mây mù bao phủ.

5747a91c45bceb7d49000227
Cánh đồng thổ canh độc đáo trên cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: Giang Hiền Sơn

Với những giá trị đặc sắc ấy, cao nguyên đá Đồng Văn đã được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu, đây là danh hiệu đầu tiên - duy nhất ở Việt Nam và thứ hai ở Đông Nam Á. Đến năm 2014, phương thức thổ canh hốc đá của các cư dân cao nguyên này cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Cao nguyên đá Đồng Văn, với các núi đá trải ra, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông Bắc xuống Tây Nam, phần lớn diện tích nằm ở thượng nguồn sông Miện, sông Nho Quế. Các sườn núi đá vôi này bị chia cắt mạnh và có độ dốc lớn. Trải theo năm tháng, các dãy núi đá vôi bị phong hóa, bị xâm thực bởi các dòng nước nên đã tạo thành những địa hình gồ ghề, hiểm trở với muôn khối đá tai mèo xám xịt, tua tủa, lởm chởm như những rừng chông giương lên trời cao.

Có lẽ, cái thủa ban đầu, do khí hậu khắc nghiệt, đất đai khan hiếm nên các thế hệ người xưa sinh sống trên vùng cao xứ đá này đã phải tận dụng từng hốc đá để trồng cây, đặc biệt là cây ngô, cây lương thực chính của đồng bào các dân tộc nơi đây. Họ đã phải gùi từng gùi đất ở chân núi lên đổ vào từng hốc đá. Rồi từ mỗi hốc đá, họ bỏ một vài hạt ngô vào và ươm lên khoảng một, hai mầm sống. Tuy nhiên, theo năm tháng, con người ngày một đông, những hốc đá như thế không đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực của con người nên họ tiếp tục sáng tạo ra những bờ nương (ruộng) bằng phương pháp dùng đá kè bờ, đổ đất, theo dọc sườn núi, tạo thành những thửa rộng bậc thang.

Theo tập tục truyền thống, mỗi khi vào mùa khô, người trên cao nguyên đá lại đi tìm những sườn núi có nhiều ánh nắng, nhiều cây mọc, đất không quá dốc để tạo nương. Khi tìm thấy đất, họ phát cỏ, chặt cây, theo cách làm từ dưới đi lên trên. Cỏ, cây phát xong được phơi nắng cho khô tại chỗ, khoảng từ 15 đến 20 ngày, rồi đốt. Sau khi đốt xong, tro được đồng bào vung ra khắp nương làm phân bón dưỡng cho đất.

Để giữ cho nương không bị sạt lở, đất bên trong không bị xói mòn, đồng bào nhặt đá xếp thành bờ ở sườn phía dưới của mỗi nương. Quá trình kè bờ ấy nếu đá tại chỗ không đủ đồng bào phải đi lấy ở các nơi khác về xếp thành bờ... Khi tạo nương, những đoạn nương dài, nhiều đất thì bờ đá được kè cao, chạy dọc theo sườn thấp của nương; những mảnh nương rộng thì lại xếp đá đổ đất theo hình bậc thang.

Quá trình tạo nương, xếp đá ấy đòi hỏi rất công phu và mất nhiều công sức. Bởi phải xếp sao cho những phiến đá chồng lên nhau vừa khít, chắc chắn, đất đổ vào trong không bị xói mòn, rửa trôi mỗi khi trời mưa. Công việc tạo nương này vô cùng vất vả bởi nó được làm chủ yếu bằng phương pháp thủ công với những công cụ lao động hết sức thô sơ như búa, đục, xà beng, gùi (gùi đất).

Cứ vậy, mỗi năm thêm được một vài hốc đá, một vài mảnh nương. Và cứ thế diễn ra bền bỉ nhiều năm, nhiều đời con người xứ đá nối tiếp nhau kè từng bờ đá, gùi từng nắm đất, vun từng hốc đá để mở rộng diện tích sản xuất, làm thành những cánh đồng theo từng mùa một cách tuyệt diệu, vừa phù hợp với địa hình địa mạo để duy trì sự sống, vừa tô điểm cho cảnh quan sơn nguyên duyên dáng như ngày nay.

Cùng với việc sáng tạo ra những cánh đồng trên đá thì kỹ thuật thổ canh hốc đá cũng được hình thành và ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm phù hợp với các điều kiện sản xuất. Trong kĩ thuật thổ canh này, đồng bào sử dụng các nông cụ chính là cày, bừa, cuốc bướm. Đây là những nông cụ thích hợp nhất với những điều kiện canh tác trên các cánh đồng đá xám. Với kỹ thuật rèn truyền thống, được rút kinh nghiệm từ nhiều đời, đồng bào các dân tộc trên cao nguyên đá (nhất là người Mông) đã chế tác ra nhiều loại nông cụ vừa bền, vừa phù hợp với địa hình đất dốc, nhiều đá.

Công việc cày, bừa vốn nặng nhọc nên trong phân công lao động thường do đàn ông đảm nhiệm. Khi cày bừa trên cao nguyên đá, đồng bào thường sử dụng bò để kéo, đây là loại gia súc chịu rét tốt, nhất là mùa đông. Khi cày đất xong, những gốc ngô cũ và cây cỏ được dọn sạch, phơi khô và đốt ngay tại nương. Những nương nhiều đá, những hốc đá không thể cày, đồng bào phải dùng cuốc bướm làm tơi đất, dọn sạch cỏ và có khi còn phải gùi đất bổ sung vào những hốc đá bị rửa trôi nhiều, đôi khi còn phải kiếm thêm đá để kè lại cho kín.

Cũng bởi nguồn đất khan hiếm, diện tích canh tác có hạn nên đồng bào còn sáng tạo ra biện pháp xen canh khi gieo trồng để đảm bảo cả lương thực và các nhu yếu phẩm khác cho sự sinh tồn. Phương thức xen canh này giúp đồng bào khai thác được nhiều nguồn hoa lợi khác nhau trên cùng một mảnh nương hay hốc đá, trong cùng một thời gian. Không những thế, việc xen canh còn duy trì được một lớp thực vật phủ trên mặt đất giúp cho đất đỡ bị rửa trôi, xói mòn.

Do điều kiện tự nhiên trên cao nguyên đá Hà Giang khá khắc nghiệt nên canh tác trên những nương đá, hốc đá thường chỉ trồng được một vụ ngô chính. Để tăng thêm nguồn lương thực nên sau mỗi vụ ngô, đồng bào lại tận dụng đất để trồng thêm một số loại cây lương thực và hoa màu khác, chủ yếu trồng cây tam giác mạch bởi cây này có chu kỳ sinh trưởng ngắn, không mất nhiều công chăm sóc. Vài năm gần đây, những cánh đồng hoa tam giác mạch còn là điểm đến, hút hồn khách du lịch trên cao nguyên đá Hà Giang. Nó đã trở thành loài hoa đặc trưng, một biểu tượng về hoa của xứ đá Hà Giang.

Giang Hiền Sơn

Bình luận

ZALO