Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 29/10/2020 05:42 GMT+7

Công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận

Biên phòng - Giảm nghèo bền vững là chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, thể hiện quan điểm, tính nhân văn sâu sắc. Đặc biệt, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), công tác giảm nghèo bền vững là mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách. Trong giai đoạn 2015-2020, Ủy ban Dân tộc (UBDT) đã có nhiều chủ trương, giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo, từng bước chăm lo đời sống đồng bào DTTS và miền núi.

Cán bộ Đồn Biên phòng Nhâm, BĐBP Thừa Thiên Huế hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số xã Quảng Nhâm, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế kỹ thuật trồng dứa. Ảnh: Võ Tiến

Theo báo cáo của UBDT, để triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội về vấn đề đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, từ năm 2016 đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, chính sách, trong đó có 15 chính sách trực tiếp cho đồng bào DTTS và miền núi, 36 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào DTTS. Nội dung các chính sách giai đoạn này tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giảm nghèo; phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản; giáo dục, đào tạo; văn hóa... Qua đó, đã tập trung giải quyết khó khăn, các vấn đề bức xúc của đồng bào vùng DTTS.

Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm UBDT Lê Sơn Hải nhận định: Trong giai đoạn 2015-2020, lĩnh vực giảm nghèo nói chung và giảm nghèo ở khu vực miền núi, vùng đồng bào DTTS tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững và ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện. Sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, các cấp ở địa phương, cùng với sự nỗ lực, phấn đấu vươn lên của đồng bào các DTTS đã tạo ra sự thay đổi nhanh và cơ bản diện mạo nông thôn vùng DTTS và miền núi. Các chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trên địa bàn các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng DTTS và miền núi.

Báo cáo tổng kết chương trình giảm nghèo giai đoạn 2015-2020 của UBDT cho thấy, trong thời gian qua, các chương trình, chính sách đã hỗ trợ cho người dân vươn lên thoát nghèo. Cụ thể, Chương trình 135 do UBDT chủ trì đã hỗ trợ cho đồng bào DTTS 115.483 tấn giống cây lương thực, hỗ trợ 51.078 con gia súc, 124.242 con gia cầm; hỗ trợ 66.630 tấn thức ăn chăn nuôi, 492.022 liều thuốc thú y; xây dựng được 816 mô hình sản xuất (mô hình chăn nuôi, mô hình nông lâm kết hợp, mô hình trồng trọt...) với tổng số 1.697 triệu hộ hưởng lợi từ chương trình... Đặc biệt, trong quá trình thực hiện, chương trình đã lồng ghép một số chương trình, chính sách khác trên địa bàn như: Chương trình khuyến nông, khuyến lâm trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, vốn vay... Đến nay, có 100% xã, thôn bản đặc biệt khó khăn được tiếp cận với giống cây trồng, vật nuôi mới, các hộ nghèo, cận nghèo được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức khuyến nông, khuyến lâm, kinh nghiệm sản xuất.

Bên cạnh đó, Chương trình 135 cũng tập trung đầu tư công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu, gồm: Công trình giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh; công trình điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thôn, bản; nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng; trạm y tế... Cụ thể, chương trình đã đầu tư xây dựng 21.090 công trình cơ sở hạ tầng (12.674 công trình giao thông, 1.871 công trình thủy lợi, 1.821 công trình trường học, 609 công trình nước sinh hoạt, 236 công trình điện, 147 công trình trạm y tế, 3.235 công trình nhà sinh hoạt cộng đồng và 367 công trình khác).

Đối với chính sách hỗ trợ đất ở, với nguồn kinh phí ngân sách Trung ương là 2.717 tỷ đồng và nguồn lồng ghép khác, chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào DTTS đã giúp 16.742 hộ ổn định cuộc sống. Các dự án của Bộ Quốc phòng tham gia tổ chức di dân, sắp xếp ổn định dân cư, đã xây dựng được 276 điểm dân cư mới, chủ yếu là khu vực biên giới, hoàn thành việc đỡ đầu, đón nhận được trên 100.000 hộ dân.

Nhờ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chất lượng giáo dục vùng DTTS và miền núi đã có những tiến bộ đáng khích lệ: Quy mô, mạng lưới trường lớp ở vùng DTTS và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hiện, toàn vùng có 5.766 trường mầm non; 100% số trường, nhóm lớp thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới. Đến nay, các tỉnh vùng DTTS đều được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. 100% tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 14 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3. Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99,35%; cấp trung học cơ sở là 92,27%; cấp trung học phổ thông là 63,03%. Tỷ lệ học sinh từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở là 89,46%. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em DTTS được học tập, ăn ở tại trường.

Đến năm 2019, cả nước có 98,4% số xã có trạm y tế hoạt động; 96% số thôn, bản có nhân viên y tế, 90% số xã có bác sĩ làm việc, hơn 95% số xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh; 76% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020. Người nghèo, đồng bào DTTS, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, vùng sâu, vùng xa, biên giới ngày càng có nhiều cơ hội được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, ban đầu.

Nhà nước hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS ở vùng khó khăn. Tỷ lệ người DTTS có thẻ bảo hiểm y tế và thẻ khám, chữa bệnh miễn phí tại các xã đặc biệt khó khăn là 84% (tỷ lệ trung bình cả nước khoảng 72,3%). Năm 2019, có hơn 6,6 triệu người nghèo DTTS được cấp thẻ bảo hiểm y tế, chiếm 69,96% người DTTS. Năm 2017, có 27.604 phụ nữ thuộc hộ nghèo là đồng bào DTTS sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ. Hiện nay, có 1.737 cô đỡ thôn, bản đang hoạt động tại 8.165 thôn, bản khó khăn, làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; thực hiện vai trò là cầu nối giữa y tế xã với người dân. Nhờ vậy, chất lượng công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình từng bước được nâng cao; các chỉ số về sức khỏe sinh sản cho đồng bào vùng sâu, vùng xa ngày càng được cải thiện; tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm hằng năm.

Nhờ các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, đời sống người dân ở vùng DTTS và miền núi ngày càng được cải thiện. Ảnh: Việt Cường

Từ năm 2016, có 410 trạm y tế, phòng khám quân dân y thuộc các xã vùng sâu, vùng xa tổ chức khám, chữa bệnh cho đồng bào DTTS; tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng nếp sống vệ sinh, bài trừ hủ tục, tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS, thực hiện chương trình dân số-kế hoạch hóa gia đình. Đặc biệt, với 152 phòng khám quân dân y tại các đồn Biên phòng dọc tuyến biên giới luôn thực sự là “cánh tay nối dài” của các trạm y tế xã đến tận buôn, làng, thôn, bản.

Theo Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm UBDT Lê Sơn Hải, trong giai đoạn vừa qua, cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy, từ cơ chế nặng về áp đặt chuyển sang cơ chế phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch trong công tác xây dựng và lập kế hoạch; từ hỗ trợ trực tiếp cho hộ chuyển dần sang hỗ trợ cho cộng đồng, nhóm hộ; từ cho không chuyển sang mô hình cho vay. Các chính sách cũng được sự quan tâm, phối họp giữa các bộ, ngành và địa phương, vai trò của người dân được phát huy, tạo được sự đồng thuận từ Trung ương đến địa phương trong các khâu xây dựng, thực hiện và kiểm tra, đánh giá chính sách. Những kết quả trên đã làm thay đổi cơ bản diện mạo của nông thôn vùng DTTS và miền núi, góp phần thúc đẩy nhanh công tác giảm nghèo ở địa bàn đặc biệt khó khăn.

Linh Đan

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO