Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 21/04/2021 08:40 GMT+7

Công tác dân số cần gắn với chính sách bảo hiểm xã hội

Biên phòng - Với sự vào cuộc và chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở cùng với sự nỗ lực của cả hệ thống làm công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ), công tác DS-KHHGĐ của nước ta đã thực hiện theo định hướng của Đảng và cơ bản đạt được mục tiêu Nghi quyết 47-NQ/TW đã đề ra, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước, nhất là đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện đời sống nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay dân số nước ta đã xuất hiện những đặc điểm mới và những xu hướng mới, khác biệt lớn so với thời điểm hoạch định chính sách DS-KHHGĐ (1991), như: mức sinh thấp; hình thành cơ cấu dân số vàng; mất cân bằng giới tính khi sinh có xu hướng gia tăng; già hóa dân số diễn ra nhanh, di cư ngày càng phức tạp; nạn phá thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS vẫn còn khá phức tạp, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Những đặc điểm và xu hướng này sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển bền vững của Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.

Trên thực tế, nước ta đã đạt được mức sinh “thay thế” (thế hệ con cái vừa đủ để “thay thế” bố mẹ trong quá trình sinh sản) một cách vững chắc do sự phát triển kinh tế - xã hội, sự kiên trì và đẩy mạnh KHHGĐ trong những thập niên qua mức sinh của Việt Nam giảm nhanh, hiện đã đạt mức “thấp”. Mô hình gia đình 2 con đang trở nên phổ biến. Năm 1999, Liên hợp quốc ghi nhận thành công này, đã tặng giải thưởng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam.

Tuy nhiên, việc đạt mục tiêu “Mỗi gia đình 2 con” đã đặt ra câu hỏi: Chính sách trong lĩnh vực dân số nước ta hơn nửa thế kỷ qua đặt KHHGĐ là trọng tâm liệu có còn thích hợp không? và nếu cần thay đổi thì phải thay đổi như thế nào?

Theo dự báo, dân số nước ta vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm lại (giai đoạn 2009-2019 bình quân hàng năm khoảng 1%, sau đó sẽ dưới 1%). Năm 2025, nước ta sẽ có 100 triệu dân và tiếp tục tăng chậm lên đến khoảng 110 triệu vào giữa thế kỷ. Dân số đông là một thị trường lớn, hấp dẫn đầu tư nhưng cũng là thách thức lớn về an ninh lương thực, năng lượng và nhiều vấn đề an sinh xã hội.

Theo dự báo của Tổng cục Thống kê năm 2016, thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” của Việt Nam sẽ kéo dài đến khoảng năm 2041 (bắt đầu từ năm 2006). Cơ cấu dân số “vàng” mang lại nhiều cơ hội nhờ lực lượng dân số trong độ tuổi lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm và việc làm có năng suất, chất lượng và hiệu quả, thu nhập cao.

Hiện nay, Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 khi tỷ lệ những người từ 60 tuổi trở lên đạt 10% và sớm trở thành nước có dân số già vào khoảng năm 2032 khi tỷ lệ này chạm “ngưỡng” 20%. Trong khi những người cao tuổi hiện nay phần lớn là những người đã trải qua thời kỳ chiến tranh, nghèo khó nên sức khỏe yếu; hơn 70% sống ở nông thôn, phần lớn không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...

Những đặc điểm cơ bản đó cùng với tình trạng biết trước giới tính thai nhi ngày càng phổ biến, làm mất cân bằng giới tính khi sinh; tình trạng di cư, đô thị hóa, tích tụ dân số đang diễn ra khá mạnh; lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao… đang ngày càng làm trầm trọng thêm những thách thức về an sinh xã hội cho và thách phát triển bền vững ở nước ta.

Điều này, cũng có nghĩa là DS-KHHGĐ cần có những chính sách dân số mới, thích hợp với tình hình mới về dân số, như Kết luận số 119-KL/TW ngày 4-1-2016 của Ban Bí thư trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã khẳng định. Theo đó, Ban Bí thư đề nghị Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII xem xét, ban hành Nghị quyết về dân số nhằm “chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển”.

Xuân Phương

Bình luận

ZALO