Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ ba, 04/08/2020 12:57 GMT+7

Công cụ hữu hiệu bảo vệ rừng

Biên phòng - Với mô hình quản lý rừng tự nhiên dựa vào cộng đồng, nhiều khu rừng ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Giang... đã được bảo tồn và khai thác bền vững, đem lại nguồn thu đáng kể cho người dân. Bài học kinh nghiệm được rút ra từ những địa phương trên là khi người dân được trao quyền thực sự thì rừng mới được bảo tồn và phát triển bền vững.

h0sx_21a-1.JPG
Một góc rừng Pù Mát, Nghệ An. Ảnh: NB

Rừng cộng đồng đã tồn tại như là một phần của truyền thống địa phương. Nó gắn các lợi ích của người dân với tín ngưỡng tâm linh, tôn giáo của cộng đồng và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống, văn hóa của các nhóm dân tộc thiểu số. Để thúc đẩy lợi ích của cộng đồng và vai trò của người dân trong quản lý bền vững rừng, từ những năm 1990, Nhà nước đã triển khai giao rừng cho cộng đồng quản lý và sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, quá trình thể chế hóa và thực hiện các chính sách có nhiều khó khăn như địa vị pháp lý của cộng đồng chưa rõ ràng, các quyền lợi và trách nhiệm pháp lý của cộng đồng như một chủ rừng thực sự vẫn chưa được Nhà nước thừa nhận. Hệ thống chính sách về quyền của người dân được tiếp cận, quản lý và sử dụng rừng tự nhiên vẫn còn khác biệt so với thực tiễn nên những chính sách này mới chỉ dừng lại ở văn bản. Trong khi đó, hoạt động bảo vệ rừng, hay bảo tồn đa dạng sinh học chỉ có hiệu quả khi có sự tham gia một cách đầy đủ của người dân. Bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác giao đất, giao rừng hiệu quả.

Phát huy quyền và trách nhiệm của người dân

Theo bà Bùi Thị Thanh Thủy, Trung tâm Phát triển sáng kiến cộng đồng và Môi trường (C&E), phát huy quyền và địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư là một trong những vấn đề quan trọng để góp phần quản lý rừng bền vững tại địa phương. Bà Thủy nhấn mạnh: "Khi cộng đồng cảm thấy họ là chủ rừng thực sự thì rừng chắc chắn sẽ được quản lý bền vững hơn". Cùng với quan điểm này, từ năm 2011 đến nay, Viện Rô-da Lúc-xem-bua vùng Đông Nam châu Á đã hỗ trợ Trung tâm C&E và các đối tác địa phương ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam thực hiện dự án thí điểm "Quản lý bền vững rừng tự nhiên thông qua nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực để sử dụng quyền và địa vị pháp lý của cộng đồng dân tộc thiểu số đối với rừng tự nhiên ở miền Trung Việt Nam". Trong quá trình thực hiện dự án, cộng đồng được tham gia tất cả các hoạt động từ chia sẻ quan điểm, chính kiến tới xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ và khai thác rừng hằng năm.

Cũng theo bà Thủy, khi triển khai dự án, người dân được tập huấn kỹ năng, kiến thức về quản lý, bảo vệ rừng, được tham quan học tập kinh nghiệm, hỗ trợ phương tiện, vật tư, xây dựng các câu lạc bộ sử dụng rừng thân thiện. Đánh giá về kết quả dự án, bà Thủy cho biết: "Cộng đồng dân cư đã hiểu và thực hiện các thông tư, chính sách liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng, biết được các quyền của mình khi quản lý rừng cộng đồng. Họ mạnh dạn hơn trong việc chia sẻ hoạt động, những khó khăn trong quá trình quản lý, bảo vệ rừng. Họ cũng đã biết cách lập kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và sản xuất theo năm, quý. Họ tự xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của thôn, bản. Quy ước này mang tính pháp lý cao, được UBND huyện công nhận. Do đó, cộng đồng dân cư thôn được giao đất giao rừng, có trách nhiệm hơn trong việc tổ chức các hoạt động như đã thống nhất trong quy ước và thường xuyên báo cáo với cán bộ địa phương. Trách nhiệm của cộng đồng cũng được phát huy thông qua các hoạt đồng tuần tra bảo vệ rừng; thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; báo cáo vi phạm cho kiểm lâm địa bàn hoặc chính quyền địa phương, phát triển rừng và khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ".

Để phát huy quyền làm chủ của người dân, ông Nguyễn Văn Tình, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho rằng, phải xây dựng được cơ chế, chính sách hợp lý. Theo ông, rừng tự nhiên phải có chủ quản lý thực sự và không ai tốt hơn là giao cho người dân địa phương quản lý, bảo vệ. "Tuy nhiên, chỉ nên giao rừng ở những nơi người dân thực sự có nhu cầu. Vì vậy, khi được giao rừng, người dân cũng cần xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát triển rừng. Ngoài ra, cần thực hiện điều tra, xác định trạng thái, trữ lượng rừng trước khi giao cho dân để làm cơ sở tính toán tỉ lệ hưởng lợi lượng tăng trưởng từ rừng. Sau khi giao đất, giao rừng cần tiếp tục hỗ trợ cộng đồng củng cố các quyền đã được xác lập. Xây dựng quy ước bảo vệ rừng, tổ chức giám sát, kiểm tra và xử lý những trường hợp vi phạm. Đồng thời, cần có những hỗ trợ từ bên ngoài cho người dân đầu tư vào rừng, nhất là cho những hộ thiếu vốn và nhân lực" - Ông Tình đề xuất.

Phát triển các hoạt động sinh kế thay thế

Thực tế, đồng bào dân tộc thiểu số hằng ngày gắn bó với rừng, lấy rừng là nguồn sống thông qua các hoạt động canh tác nương rẫy, khai thác và săn bắt. Điều này gây áp lực đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng. Một trong những kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình quản lý rừng bền vững và hiệu quả là phải gây dựng được các hoạt động sinh kế cho người dân.

16fi_21b-1.JPG
Người Hà Nhì (Lào Cai) làm lễ cúng rừng. Ảnh: CTV
 
Với phương thức phát triển các sinh kế cho người dân, chính quyền huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam đang giúp cộng đồng người Cơ Tu thay đổi dần thói quen khai thác tài nguyên rừng một cách bừa bãi. Từ tháng 1-2012 đến tháng 12-2015, dự án "Khuyến khích bảo tồn và sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại huyện Tây Giang" đã được thực hiện tại 5/10 xã của huyện. Từng nhóm cộng đồng nhỏ có cùng sở thích được đầu tư nguồn lực để phát triển các sinh kế thay thế thông qua các dự án quy mô nhỏ như: Chăn nuôi bò, gà, ngan, dê... Mỗi hộ được hỗ trợ tối đa 5 triệu đồng để mua giống, vật liệu, thức ăn, dịch vụ chăm sóc thú y ban đầu. Với mô hình này, nhận thức của người dân thụ hưởng dự án có thay đổi rõ rệt. Theo ông Trần Cảnh Thắng, Tổ chức Malteser International (đơn vị hỗ trợ thực hiện dự án) thì người dân đã coi dự án là của mình nên mạnh dạn đầu tư tiền mua thức ăn cho vật nuôi. Thậm chí họ còn lo lắng mất ăn mất ngủ và tìm đến nhân viên thú y khi vật nuôi bị bệnh... Trước đây, điều này chưa từng xảy ra.

Ông Thắng nhận xét: "Nếu như trước đây, người dân chăn nuôi không chuồng trại, không cho ăn thêm dẫn tới hiệu quả sản xuất không cao thì hiện nay, trên 95% số hộ đã xây dựng chuồng trại theo hướng dẫn. Trên 80% số hộ nuôi gà, heo... đã phối trộn tốt các khẩu phần thứ ăn. Kết quả, đàn gia súc, gia cầm phát triển nhanh. Có hộ sau 3 tháng nuôi gà có thu nhập trên 3,5 triệu đồng. Người dân cũng đã biết chọn mua con giống, vật tư sản xuất sau khi dự án kết thúc. Họ cũng biết cách bán sản phẩm đã nuôi với giá cả hợp lý. Những hoạt động của dự án đã giúp người dân có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng".

Một công cụ được cho là hữu hiệu khác trong việc phát huy quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quản lý, bảo vệ rừng là chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Theo số liệu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Nam, sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, trên địa bàn tỉnh có 178.000ha rừng tự nhiên được bảo vệ. 15.911 hộ dân đã ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng và nhận tiền chi trả DVMTR. Qua việc thực hiện DVMTR, các hộ dân và nhóm hộ đã nhận thức được rõ vị trí, ranh giới, diện tích khu rừng được bảo vệ; nguồn tiền chi trả DVMTR được nhận từ đâu; cơ chế giữa nghĩa vụ bảo vệ rừng và lợi ích được hưởng là rõ ràng.

Nguyễn Bích

Bình luận

ZALO