Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 31/10/2020 05:47 GMT+7

Cồn Cỏ - hoa giữa hồn tôi

Biên phòng - Hoa phong ba Cồn Cỏ là loài hoa gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất khi lần đầu tiên ra đảo. Cái tên “hoa phong ba” gợi lên cái đẹp nơi bão tố, nghe rất âm vang, là sự giới thiệu đầy kiêu hãnh của thiên nhiên về hòn đảo này. Quê tôi làng biển Thượng Luật, xã Ngư Thủy, ở góc biển phía Nam Quảng Bình, giáp Vĩnh Thái, Vĩnh Linh. Ở làng tôi, vào buổi sáng, nếu trời trong biển lặng, nhìn về phía mặt trời, sẽ thấy đảo như một chấm xanh của bông hoa ánh vàng ở chân trời. Đó là đảo Cồn Cỏ.

ji8n_22
Một góc đảo Cồn Cỏ. Ảnh: Minh Quân

Những năm tháng chiến tranh, ngày nào phía Cồn Cỏ cũng vọng về tiếng bom, tiếng súng. Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy (gọi là C Gái) quê tôi rất nhiều lần đẩy pháo 85 ly, nòng vươn dài ra trận địa, đợi lệnh bắn tàu chiến Mỹ, đề phòng chúng từ phía Cồn Cỏ tấn công vào đất liền. Sau này lớn lên được ra đảo, ngắm bông hoa phong ba, tôi mới hình dung được bông hoa mọc phía chân trời của tuổi thơ tôi ấy là loài hoa đặc trưng của đảo Cồn Cỏ. Hoa nhỏ xinh năm cánh, nhụy vàng, mọc từng chùm như trẻ thơ cười trong gió. Phải chăng vì thế mà loài hoa này được người Cồn Cỏ dùng để đặt tên cho ngôi trường kiên cố đầu tiên trên đảo: Trường Mầm non - Tiểu học Hoa Phong Ba! Thật ấn tượng!

Ra đảo Cồn Cỏ, tôi còn thích một loài cây nữa: Cây bàng vuông. Ở đảo Cồn Cỏ có đến hàng mấy chục cây bàng vuông cổ thụ trăm tuổi. Ngay trước trụ sở UBND huyện đảo có một cây bàng vuông cổ thụ như thế. Đúng, nó là cây bàng, cành bàng, lá bàng giống bàng trong đất liền. Nhưng quả của nó thì to như quả thanh trà ở xứ Huế, phần đít quả lại vuông (hoặc lục giác), vì thế mới gọi là bàng vuông. Tôi đã hái một quả bàng vuông về để trên bàn viết làm kỷ niệm. Hoa bàng vuông to bằng cái đĩa, cánh trắng và tím li ti rất đẹp. Giống bàng vuông này ở đảo Trường Sa Lớn cũng có, nhưng Côn Đảo và các đảo gần bờ khác ở phía Nam thì không! Đảo Cồn Cỏ cũng mạch núi với Trường Sa chăng? Anh Lượng, lái xe của huyện đảo rủ chúng tôi trèo lên cây bàng vuông cổ thụ để ngắm biển. Xa xa, những con thuyền đánh cá và những con tàu di chuyển trên biển. Ngồi trên chạc ba tán bàng vuông Cồn Cỏ, tôi cứ miên man nghĩ về những con mắt biển...

Tuổi thơ tôi vào quê ngoại làng Tân Mạch, xã Vĩnh Thái nghe dì Quế hát ru cháu: “Sóng sậm sịch lưng chừng ngoài biển Bắc! Giọt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên...”. Tức giông tố gió mùa đông bắc, cũng như giặc phương Bắc, luôn đe dọa những con thuyền ra khơi ở các ngư trường Cồn Cỏ, Hoàng Sa, Trường Sa thân yêu của chúng ta. Có lẽ vì thế mà nước ta có rất nhiều nàng Vọng Phu hóa đá trông chồng chăng? Họ cũng là những con mắt biển. Ở lăng mộ họ Đào, họ mẹ tôi ở làng Thử Luật, tất cả cố nội, ông nội, bà nội cho đến các chú bác... đều nằm mặt hướng biển. Mắt làng là mắt biển. Và con cháu bây giờ vẫn vậy. Biển là cái “kho trời” không bao giờ vơi cạn, luôn luôn đau đáu ngóng trông

Trạm ra-đa Cồn Cỏ dựng ngay ở vị trí chòi quan sát của anh hùng Thái Văn A ngày trước. Tuổi học sinh, tôi đã hát: “Sừng sững chòi cao trên hòn đảo nhỏ/... Thái Văn A đứng đó.../ Yêu đảo như quê giây phút chẳng rời...”. Ạnh bộ đội trẻ của trạm ra-đa bảo rằng: Ra-đa là con mắt Cồn Cỏ, thức suốt  24 giờ trong ngày, ghi hình tất cả tàu lạ, tàu quen đi qua khu vực nó phụ trách và chuyển về trung tâm chỉ huy. Nhiều tàu lạ lắm...

Mùa hạ năm 1982, thời còn chung tỉnh Bình Trị Thiên, tôi được dự trại sáng tác văn học nghệ thuật ở Cửa Tùng cùng với nhiều văn nghệ sĩ như Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Vũ Thuật, nhạc sĩ Trần Hoàn, họa sĩ Bửu Chỉ... Tôi ở trong nhà anh Lê Bỉnh ở làng Hòa Lý. Đêm, tôi một mình ra biển. Từ phía những cồn cỏ trông ra phía biển, tôi như bị thôi miên bởi hàng chục những đốm lửa nhỏ ai vừa đốt lên. Tôi lần đến gần. Ôi, những nấm mộ biển, những chùm hoa muống biển và những que nhang...

Trong khuya lạnh, một người đàn bà đầu chít khăn tang trắng đang quỳ chắp tay lầm rầm khấn vái bên một nấm mộ vô danh. Chị quỳ một mình lặng im như tượng đá. Chị không mảy may tỏ ra hoảng hốt khi trong đêm khuya có một gã đàn ông đang tiến lại gần. Chị lặng lẽ thắp thêm một tuần nhang nữa cắm trên những ngôi mộ như những nấm cát trắng nhỏ nhoi. Đợi chị cắm xong nén nhang cuối cùng, tôi mới hỏi: “Dạ thưa... đây là phần mộ của những ai?”.

Và câu chuyện của người đàn bà không quen biết đêm Cửa Tùng ấy luôn ám ảnh tôi. Người đàn bà kể rằng, từ những năm 1967, 1968 cho tới khi Mỹ ngừng hẳn ném bom miền Bắc, tất cả ngư dân vùng biển Vĩnh Linh ban ngày bắn máy bay, đánh tàu chiến Mỹ bảo vệ làng xã; ban đêm họ lại đẩy thuyền ra biển, vận tải tiếp tế súng đạn, lương thực, thuốc men, quần áo, gạo cơm và cả những bài hát ra đảo Cồn Cỏ phục vụ chiến sĩ ta đánh giặc. Thuyền vận tải là loại thuyền vỏ trấu huyền thoại được đóng bằng gỗ, như thuyền đánh cá của ngư dân, chèo bằng tay. Mỗi thuyền 8 hoặc 10 tay chèo, tay súng. Họ bỏ lại tất cả giấy tờ tùy thân ở nhà trước khi ra đảo. Để cô lập Cồn Cỏ, giặc Mỹ thường xuyên ném bom đánh phá, ngăn chặn con đường tiếp tế dân gian bền bỉ này. Nhiều ngư dân là thanh niên các thôn bờ Bắc Cửa Tùng và các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Giang, Vĩnh Kim, Vĩnh Thạch... đêm đêm đóng khố Thạch Sanh đưa con thuyền như niêu cơm đầy ắp tin yêu ra đảo. Nhiều người trong số họ đã anh dũng hy sinh trên đường ra đảo hoặc từ đảo trở về đất liền, nhiều người còn bị địch bắt, bị mất tích vì thuyền chìm... Tất cả họ đã trở thành muối mặn.

Người già kể rằng, 6 ngôi mộ vô danh ở mé biển Cửa Tùng ấy chỉ là những ngôi mộ tượng trưng, chẳng có bất cứ tuổi tên nào cả. Dân Vĩnh Quang, Hòa Lý đắp những nấm mộ gió ấy hướng về Cồn Cỏ để đời đời tưởng nhớ những đứa con Vĩnh Linh “ra đảo” không về. Nhưng đó là tất cả những tên tuổi đã làm nên con đường huyền thoại nối Cồn Cỏ với đất Mẹ một thời. Biển mới là nấm mộ vĩnh cửu của họ. Và tên tuổi, hình bóng của họ là xa kia đảo nhỏ anh hùng! Người đàn bà quỳ thắp nén nhang khấn vái bên những ngôi mộ trong đêm khuya Cửa Tùng ấy chính là vợ của một ngư dân Vĩnh Linh ra đảo không về. Nhưng với chị, anh ấy không chết. Mấy chục năm nay chưa hề có ai mang đến cho chị cái “giấy báo tử”! Không có ai. Biển đêm vẫn rì rào bí ẩn và lấp lánh như ánh mắt anh cười lúc vác mái chèo tạm biệt vợ con. Biển không hề thiếu vắng điều gì, vẫn mặn sâu trong ký ức của chị.

Và những đốm lửa nhang trong đêm khuya đỏ như hoa, sóng trắng như hoa khi tôi ngước nhìn ra đảo Cồn Cỏ!

Chúng tôi trèo lên cột đèn hải đăng cao 100 bậc tam cấp, tham quan nơi đặt ra-đa của Bộ đội Hải quân ở ngọn đồi cao nhất đảo, gọi là đồi 63... Thăm những cây bàng vuông trăm tuổi, xem công sự chiến đấu bộ đội đào giữa đá vòng quanh đảo, chụp ảnh với rặng cây phong ba... Người lính đảo hôm nay còn nhắc đến nhưng cái tên như đồi Hà Nội, điểm cao Hải Phòng, bến Sông Hương... do bộ đội đặt trong những năm  chiến tranh để nhắc đến Cồn Cỏ một thờì là của cả nước, vì cả nước. 

Những cây phong ba lớn mọc thành dãy quanh đảo ngay bờ biển, như những bức tường chắn gió bão theo đúng như tên gọi của nó. Những ngày hè, tôi thấy phong ba xanh tốt, ra hoa màu xanh trắng từng chùm rất dễ thương. Từ khi thành lập huyện đảo Cồn Cỏ đến nay, tỉnh Quảng Trị đã đầu tư mấy trăm tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Một con đường nhựa vòng quanh đảo. Năm 1989, ngày lập lại tỉnh, Tỉnh đoàn Quảng Trị đã đem ra đảo trồng 4.000 cây dừa. Đến nay, dừa đã xanh tốt và cho trái. Một điều mừng nhất là năm 2018, tỉnh Quảng Trị đã đầu tư sắm tàu cao tốc, lập tour du lịch Cồn Cỏ. Thật mừng! Nhưng để duy trì “tour du lịch Cồn Cỏ” ấy phải kiên trì và bền bỉ lắm!

Chia tay Cồn Cỏ, trên con tàu rời đảo, quay lại, tôi thấy hình thù đảo Cồn Cỏ như con mắt nhìn mình. Chao ơi, một chấm xanh Cồn Cỏ, bông hoa phong ba, hoa bàng vuông bao năm nay vẫn lay động hồn tôi...

Bút ký: Ngô Minh

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO