Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 24/06/2021 01:00 GMT+7

Dự án Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo:

Cơ sở pháp lý bảo vệ tài nguyên biển, đảo Tổ quốc

Biên phòng - Sáng 22-10, Quốc hội làm việc tại hội trường nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang, thừa Ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

12-39-16_a2.jpg
Đại biểu Dương Trung Quốc trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Quốc hội.

Đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng: Một đất nước có hơn 3.000km bờ biển, hơn 3.000 hòn đảo đến bây giờ mới xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là muộn, bởi biển và hải đảo không những ẩn chứa trong đó tài nguyên, thiên nhiên, mà còn văn hóa, lịch sử tích lũy của ông cha bao thế hệ, do đó cần có cơ sở pháp lý, xây dựng ý thức và kỹ năng để quản lý, bảo vệ tài nguyên, tạo thuận lợi cho nhân dân làm ăn trên biển để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, bảo chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Vời tầm quan trọng của việc xây dựng dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, sau khi có Tờ trình về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Hội đồng thẩm định Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm định dự thảo Luật, nhất trí với sự cần thiết ban hành văn bản, bởi nó phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, sự tương thích của dự án Luật với điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN là thành viên. Bên cạnh đó, Hội đồng thẩm định đã lấy ý kiến của các chuyên gia để bổ sung một số điều trong dự thảo.

Trong đó, Hội đồng thẩm định nhất trí cao với Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trưởng biển và hải đảo nêu bật được quy định quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ phải phù hợp và căn cứ vào Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển.

Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ là công cụ điều phối, phối hợp, định hướng các hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực, giúp khắc phục các xung đột, mâu thuẫn trong quản lý ngành, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bảo vệ tài nguyên, môi trường và các hệ sinh thái biển, thống nhất các hoạt động quản lý từ trung ương đến địa phương, đảm bảo phát triển bền vững biển và hải đảo.

Trên cơ sở quy hoạch này, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển trong phạm vi quản lý nhà nước được giao có trách nhiệm rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành ở khu vực vùng bờ cho phù hợp với quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được Chính phủ phê duyệt (Khoản 2 Điều 29 dự thảo Luật).

12-39-16_a1.jpg
Các đại biểu trao đổi bên lề Quốc hội về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
 
Đối với tài nguyên hải đảo, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho rằng: Tài nguyên hải đảo, “Tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng đất ven biển, các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam”.

Như vậy, “tài nguyên biển” bao gồm cả “tài nguyên hải đảo”. Do vậy, việc quản lý tài nguyên biển đã bao gồm quản lý tài nguyên hải đảo, được quy định trong toàn bộ dự thảo Luật. Chương V dự thảo Luật chỉ quy định một số nội dung đặc thù về phân loại các hải đảo, chế độ khai thác, sử dụng tài nguyên các hải đảo và lập, quản lý hồ sơ tài nguyên hải đảo.

Về bảo vệ môi trường biển, Bộ trưởng Nguyễn Quang Minh cho biết: Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) đã được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 7 có một chương quy định về bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Chương V) chỉ với 3 điều mang tính nguyên tắc.

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã cụ thể hóa những vấn đề về bảo vệ môi trường theo đặc thù của biển như phân vùng rủi ro ô nhiễm, nhận chìm ở biển, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển... Về các vấn đề khác có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường biển thì vẫn thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Hoàng Hà

Bình luận

ZALO