Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 26/11/2020 10:52 GMT+7

Nhân ngày dân số thế giới 11-7:

Cần sự nỗ lực để chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Biên phòng - So với thời điểm hoạch định chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), dân số nước ta hiện nay đã xuất hiện những đặc điểm và xu hướng mới, khác biệt chưa từng thấy. Những đặc điểm và xu hướng này sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển bền vững của Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải có chính sách dân số mới để phát huy những ưu điểm và khắc phục những mặt tiêu cực do dân số nước ta hiện nay mang lại.

69ta_12
Một trong những mục tiêu hướng đến của Việt Nam là nâng cao chất lượng dân số, trong đó chú trọng công tác giáo dục. Ảnh: Bích Nguyên

Chính sách DS-KHHGĐ của Việt Nam được hoạch định từ năm 1961. Vào thời điểm đó, mức sinh của cả nước rất cao, do đó, giảm sinh là mục tiêu cốt lõi, trọng tâm. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự kiên trì và đẩy mạnh KHHGĐ, mức sinh của nước ta giảm nhanh và đạt mức thấp. Nếu những năm 1965-1969, tính đến hết độ tuổi sinh đẻ, trung bình mỗi phụ nữ có khoảng 6,8 con thì đến năm 2005, chỉ tiêu này chỉ còn 2,1 con/phụ nữ và được giữ vững cho đến nay.

Ở nước ta, mô hình "gia đình 2 con" đang trở nên phổ biến. Việt Nam cũng đã đạt được "mức sinh thay thế" (thế hệ con cái vừa đủ để "thay thế" bố mẹ trong quá trình sinh sản). Như vậy, mục tiêu mà chính sách DS-KHHGĐ theo đuổi suốt nửa thế kỷ qua đã thành công.

Theo các chuyên gia, thành tựu giảm sinh của nước ta được đánh giá là vững chắc. Hệ thống dịch vụ KHHGĐ cơ bản đã phủ kín nhu cầu của người dân và đang được thị trường hóa. Từ năm 2015 trở đi, phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ, phần đông sinh từ năm 1985 trở lại đây. Đó là thế hệ mới, được giáo dục nói chung và giáo dục về DS-KHHGĐ nói riêng khá tốt. Bên cạnh đó, sự tiến bộ nhanh về kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ mạnh mẽ xu hướng giảm sinh.

Việc đạt được mục tiêu "mỗi gia đình 2 con" một cách vững chắc đã đặt ra câu hỏi: "Chính sách trong lĩnh vực dân số của nước ta hơn nửa thế kỷ qua đặt KHHGĐ là trọng tâm liệu có còn thích hợp? Và nếu cần thay đổi thì phải thay đổi như thế nào?". Trước khi trả lời câu hỏi này cần thấy rằng, so với thời điểm hoạch định chính sách DS-KHHGĐ (1961) thì dân số nước ta hiện nay đã xuất hiện những đặc điểm và xu hướng mới, khác biệt chưa từng thấy. Những đặc điểm và xu hướng này sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển bền vững của Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Đó là dân số Việt Nam tăng chậm lại nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Chất lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao. Dân số đông là một thị trường lớn, hấp dẫn đầu tư nhưng cũng là thách thức lớn về an ninh lương thực, năng lượng...

Cơ cấu dân số theo tuổi biến đổi nhanh, nước ta đang trong giai đoạn "Cơ cấu dân số vàng", tức là khoảng 2/3 dân số trong độ tuổi có khả năng lao động. Dự báo dân số cho thấy, thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" của Việt Nam kéo dài khoảng 40 năm, tức là sẽ kết thúc khoảng gần giữa thế kỷ này. Cơ cấu "dân số vàng" mang lại nhiều dư lợi về lao động nhưng cũng là thách thức về tạo việc làm và việc làm có năng suất, thu nhập cao.

Mặc dù đang trong thời kỳ "dân số vàng", nhưng dân số nước ta đã bước vào quá trình già hóa năm 2012, khi tỉ lệ người từ 60 tuổi trở lên đạt 10%. Số liệu thống kê cũng cho thấy, nước ta sẽ trở thành nước có dân số già vào năm 2030. Điều đáng chú ý là quá trình già hóa dân số của nước ta diễn ra chỉ trong khoảng 20 năm (2012-2032), trong khi các nước phát triển khác phải mất từ 60 đến hơn 100 năm. Những đặc điểm này làm trầm trọng thêm những thách thức về an sinh xã hội cho người cao tuổi trong quá trình phát triển.

Bên cạnh đó, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra nghiêm trọng. Năm 2014, tỉ lệ trẻ trai tương ứng với 100 trẻ gái được sinh ra là 112,2. Tình trạng này nếu không được cải thiện đương nhiên sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững về mặt xã hội. Một đặc điểm khác biệt nữa là tỷ lệ dân thành thị thấp, tuy nhiên, di cư, đô thị hóa, tích tụ dân số đang diễn ra ở nước ta khá nhanh. Di dân góp phần thay đổi cơ cấu lao động, nâng cao năng suất lao động theo hướng hiện đại, đó là yêu cầu cao nhất của Việt Nam trong quá trình phát triển. Trong khi đó, tích tụ dân số với mật độ rất cao cũng dẫn tới ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường.

Rõ ràng, khi mục tiêu giảm sinh đã đạt được một cách vững chắc, nếu cứ duy trì trọng tâm chính sách dân số là KHHGĐ, tập trung nguồn lực cho vấn đề đã được giải quyết là không thích hợp. Ngược lại, những vấn đề dân số nổi bật, mới phát sinh, như: Cơ cấu dân số vàng, dân số già, mất cân bằng giới tính khi sinh, di cư và tích tụ dân số, chất lượng dân số chưa cao... đang đòi hỏi phải được giải quyết đúng mức để nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần phát triển bền vững đất nước. Điều này cũng có nghĩa cần ban hành chính sách dân số mới, thích hợp với đặc điểm và xu hướng mới của dân số.

Trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW, ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ và phân tích đặc điểm dân số Việt Nam hiện nay, ngày 4-1-2016, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47. Trong đó, Ban Bí thư đề nghị Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII xem xét, ban hành nghị quyết về dân số và chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển.

Việc chuyển trọng tâm này nhằm "giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số với các nội dung mà Kết luận số 119-KL/TW chỉ rõ: Duy trì mức sinh thay thế; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; tận dụng cơ cấu "dân số vàng"; thích ứng với quá trình già hóa dân số; điều chỉnh phân bổ dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số.

Nếu như trước đây, chính sách DS-KHHGĐ chỉ tập trung vào một nội dung là KHHGĐ với mục tiêu giảm sinh thì chính sách dân số mới với 6 nội dung, tức là phạm vi rộng hơn nhiều. Đây là một chủ trương mới, rất lớn và đúng đắn của Đảng, thể hiện sự chuyển trọng tâm chứ không phải là từ bỏ KHHGĐ mà KHHGĐ được thực hiện theo phương thức mới. Điều này được thể hiện rõ trong định hướng chính sách dân số mới, "duy trì mức sinh thay thế" là nội dung đầu tiên. Chủ trương này đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực lớn trong việc đổi mới tư duy về chính sách dân số và triển khai thực hiện.

Bích Nguyên

Bình luận

Liên kết hữu ích
ZALO