Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 27/02/2021 01:24 GMT+7

Các hành vi bị nghiêm cấm về biên phòng

Biên phòng - Chương I, Luật Biên phòng Việt Nam (BPVN) với 8 điều luật xác lập những quy định chung, bao gồm: Giới hạn phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ chuyên môn; khẳng định chính sách, nhiệm vụ biên phòng; nguyên tắc, lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng; trách nhiệm, chế độ, chính sách của cơ quan, tổ chức, công dân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng và các hành vi bị nghiêm cấm về biên phòng.

Cán bộ Đồn Biên phòng Si Ma Cai, BĐBP Lào Cai bắt giữ đối tượng Ly Seo Ca phạm tội mua bán người. Ảnh: Anh Tuấn

Tại Điều 8, Chương I đã nêu rõ 7 nhóm hành vi bị nghiêm cấm về biên phòng như sau:

“1. Xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; phá hoại, gây mất ổn định an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu.

2. Sử dụng hoặc cho sử dụng khu vực biên giới của Việt Nam để chống phá, can thiệp vào nước khác; đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ biên giới.

3. Giả danh cơ quan, tổ chức, người thực thi nhiệm vụ biên phòng; chống lại, cản trở, trả thù, đe dọa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thực thi nhiệm vụ biên phòng.

4. Mua chuộc, hối lộ, dụ dỗ, lôi kéo hoặc ép buộc người thực thi nhiệm vụ biên phòng làm trái quy định của pháp luật.

5. Lợi dụng, lạm dụng việc thực thi nhiệm vụ biên phòng để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

6. Phân biệt đối xử về giới, chia rẽ, kỳ thị dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa trong thực thi nhiệm vụ biên phòng.

7. Sản xuất, sử dụng, mua bán, trao đổi, vận chuyển, phát tán thông tin, hình ảnh sai lệch về chủ quyền, lãnh thổ, biên giới quốc gia”.

Đây là những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội (gây nguy hiểm cho xã hội hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội), xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, do chủ thể là cá nhân, tổ chức thực hiện. Sử dụng phương thức cấm đoán thể hiện mức độ điều chỉnh mạnh mẽ, quyết liệt của Nhà nước đối với những hành vi này; đồng thời, đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm chỉnh, triệt để của mọi cá nhân, tổ chức có liên quan.

Trong đó, nội dung cơ bản của các nhóm hành vi bị nghiêm cấm cần lưu ý gồm:

Thứ nhất, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; phá hoại, gây mất ổn định an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu.

Quốc gia - chủ thể cơ bản của luật pháp quốc tế có đặc trưng cơ bản là chủ quyền quốc gia với những quyền và nghĩa vụ cơ bản, khẳng định vị thế, vai trò, trách nhiệm của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong đó, quyền bình đẳng về chủ quyền, quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ, nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của các quốc gia, tôn trọng sự bất khả xâm phạm lãnh thổ của các quốc gia khác là những quyền, nghĩa vụ đặc biệt quan trọng, được hình thành, phát triển phù hợp với sự phát triển tiến bộ của luật pháp quốc tế và được các quốc gia tôn trọng, nghiêm chỉnh thực hiện. Do đó, bất kỳ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ quốc gia đều phải bị nghiêm cấm.

Bên cạnh đó, với vị trí quan trọng của khu vực biên giới, cửa khẩu, đòi hỏi khu vực này bên cạnh việc thiết lập quy chế riêng để xây dựng khu vực biên giới, cửa khẩu vững mạnh thì còn phải được chú trọng bảo đảm sự ổn định, trật tự. Vì thế, quy định nội dung này trong Điều 8, Luật BPVN có sự mở rộng hơn so với quy định tại Điều 14, Luật Biên giới quốc gia: Không chỉ nghiêm cấm các hành vi “phá hoại an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới” mà còn bao gồm tất cả các hành vi “gây mất ổn định an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu”.

Thứ hai, sử dụng hoặc cho sử dụng khu vực biên giới của Việt Nam để chống phá, can thiệp vào nước khác; đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ biên giới.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực”. Nguyên tắc này đã được chính thức ghi nhận tại khoản 4, Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc: “Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào hoặc nhằm những mục đích khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc”.

Hàng loạt các văn bản quốc tế quan trọng được thông qua sau đó đã cụ thể hóa nguyên tắc này như: Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc; Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1974 về định nghĩa xâm lược... Nội dung của nguyên tắc này bao hàm nhiều vấn đề, trong đó thừa nhận cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực, không cho các quốc gia sử dụng lãnh thổ nước mình để tiến hành xâm lược chống quốc gia thứ ba.

Là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam tôn trọng, thực hiện các nguyên tắc trên, đồng thời, nội luật hóa bằng quy phạm pháp luật trong nước. Với quy định của Luật BPVN, trong phạm vi thẩm quyền, Việt Nam chi tiết hóa những yêu cầu của nguyên tắc trên trong quy định cấm, với phạm vi “khu vực biên giới” và “quan hệ biên giới”.

Thứ ba, giả danh cơ quan, tổ chức, người thực thi nhiệm vụ biên phòng; chống lại, cản trở, trả thù, đe dọa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thực thi nhiệm vụ biên phòng.

Giả danh cơ quan, tổ chức, người thực thi nhiệm vụ biên phòng là hành vi của người - không phải là cơ quan, tổ chức, người thực thi nhiệm vụ biên phòng nhưng vẫn tự xưng, lấy danh nghĩa của cơ quan, tổ chức, người thực thi nhiệm vụ biên phòng để tiến hành các hoạt động nhằm “đánh lừa” người khác. Việc giả danh này cần phải nghiêm cấm, bởi đã trực tiếp gây ảnh hưởng tới uy tín của cơ quan, tổ chức, người thực thi nhiệm vụ biên phòng; đồng thời, xâm hại tới những quan hệ xã hội mà Luật BPVN nói riêng và pháp luật về biên phòng nói chung bảo vệ bằng cách tiến hành hoạt động mà họ không phải là người có thẩm quyền.

Thực tiễn thực thi nhiệm vụ biên phòng còn ghi nhận tình trạng chống lại, cản trở, trả thù, đe dọa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thực thi nhiệm vụ biên phòng. Người thực thi nhiệm vụ biên phòng là những người được Nhà nước giao trọng trách tiến hành các hoạt động bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới; khi thực thi nhiệm vụ biên phòng, họ đã tiến hành các hoạt động để hiện thực hóa chính sách quốc phòng, an ninh của Nhà nước.

Do đó, các hành vi vi phạm nhằm vào họ trực tiếp xâm hại tới hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, người thực thi nhiệm vụ biên phòng; xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín cán bộ và làm giảm hiệu lực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Tùy thuộc vào mức độ của hành vi vi phạm mà có thể đánh giá đó là hành vi vi phạm hành chính hay tội phạm để có biện pháp xử lý phù hợp...

Như vậy, quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trong Luật BPVN đã khẳng định tính tương thích với pháp luật quốc tế, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới.

Thạc sĩ Phạm Văn Thắng, Khoa Pháp luật, Học viện Biên phòng

Bình luận

ZALO