Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 25/11/2020 11:54 GMT+7

Bức tranh tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Biên phòng - Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam không chỉ là quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời, mà còn là một dân tộc đa tôn giáo, tín ngưỡng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; và đã ban hành, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, tạo nên bức tranh sinh động về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch vẫn cố tình phớt lờ những thành quả, cố tình bóp méo sự thực về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Vậy sự thực là thế nào?

Bài 1: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được tôn trọng và bảo đảm

Những luận điệu vu cáo về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch


Trước những thành tựu của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch càng hằn học, ra sức lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để chống phá cách mạng với nhiều hình thức và thủ đoạn hết sức xảo quyệt, hiểm độc. Chúng không ngớt tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, rằng: "Việt Nam có hành động vi phạm nghiêm trọng tự do tôn giáo", "các địa phương vẫn tiếp tục đàn áp nhiều người Tin lành thiểu số", "Việt Nam hiện có nhiều người bị giam giữ vì tôn giáo", "bị cưỡng ép bỏ đạo"...

Rất tiếc, nhiều năm qua, Ủy ban tự do tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hằng năm vẫn đưa ra những đánh giá thiếu thận trọng, khách quan, phản ánh sai lệch thực tế tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Họ lặp đi lặp lại luận điệu: "Nhà nước Việt Nam đàn áp, tấn công giáo dân", "Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo"; họ tự cho mình cái quyền đòi xếp Việt Nam trở lại danh sách "các nước đặc biệt quan tâm về tôn giáo"... 

7-1.jpg
Nghi thức thả chim bồ câu trong dịp Đại lễ Phật đản.  Ảnh: TTXVN
 
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để chống phá mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng núp dưới chiêu bài "tự do tôn giáo" để cố tình phớt lờ mọi thành tựu của Việt Nam về công tác tôn giáo trong gần 30 năm đổi mới đất nước. Chúng còn tìm mọi cách gây hiềm khích, chia rẽ giữa các nhóm, hệ phái tôn giáo ở trong nước; gây mâu thuẫn giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước và Quân đội, Công an.

Chúng ra sức tài trợ cho các hoạt động truyền đạo trái pháp luật ở Việt Nam, nhằm mục đích gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra các "điểm nóng" về chính trị - xã hội, tạo cớ để các thế lực phản động bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước ta. Xuất phát từ những mưu toan chính trị thâm hiểm, cho nên khi tung ra và cổ súy cho các luận điệu "Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo", "Nhà nước Việt Nam đàn áp giáo dân!"… các thế lực thù địch đã cố tình phớt lờ tình hình thực tiễn sinh động về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong mấy chục năm qua.

Các chủ trương, chính sách đúng đắn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Chúng ta đều biết, từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (9-1945) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; coi đây là vấn đề chiến lược của cách mạng và được cụ thể hóa bằng Hiến pháp, pháp luật.

Ngày 14-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234/SL, nội dung nêu rõ: "Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện... Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn".

Các Hiến pháp của nước ta đều ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của mọi công dân Việt Nam, cụ thể: Điều 10 (Hiến pháp năm 1946); Điều 26 (Hiến pháp năm 1959); Điều 68 (Hiến pháp năm 1980); Điều 70 (Hiến pháp năm 1992)...

Trong Chương 2 (Hiến pháp năm 2013) về "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", ở Điều 24 đã nêu rõ: "1- Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2- Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3- Không ai được xâm phạm tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật".

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta xác định rõ những quan điểm, chủ trương về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo. Ngày 16-10-1990, Bộ Chính trị (khóa VI) đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới"; trong đó, khẳng định hai luận điểm có tính đột phá là: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân" và "Tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới".

Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), Đảng ta đã thông qua Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003 "Về công tác tôn giáo"; trong đó tiếp tục khẳng định: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta"(1).

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng còn nêu: "Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật"(2); đồng thời, xác định chủ trương: "Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc"(3). Như vậy, quan điểm, chủ trương của Đảng ta không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn đánh giá cao vai trò của các tôn giáo đối với dân tộc, đất nước và chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đáp ứng quá trình hoàn thiện pháp chế xã hội chủ nghĩa, Quốc hội (khóa XI) đã ban hành "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" (số 21/2004/PL-UBTVQH 11), quy định rõ các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ tôn giáo... Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản pháp luật, như: Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 1-3-2005 hướng dẫn thi hành một số điều của "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo"; Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 4-2-2005 "Về một số công tác đối với đạo Tin lành"; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31-12-2008 "Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo"; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP, ngày 8-11-2012 "Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, ngày 1-3-2005 của Chính phủ.

Bộ Nội vụ đã có Thông tư số 01/2013/TT-BNV, ngày 25-3-2013 "Ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo"; các bộ, ban, ngành liên quan cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Bài 2: Bức tranh sinh động về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

1)  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương (khóa IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 48.
2)  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 81.
3)  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 245.
Nguyễn Đức Thắng

Bình luận

ZALO