Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 17/05/2021 12:43 GMT+7

Bến tàu Không số Vũng Rô - Khúc tráng ca bất tử

Biên phòng - Gần 60 năm trước, những con tàu Không số vận chuyển vũ khí từ miền Bắc, vượt qua nghìn trùng hiểm nguy, hàng rào vây ráp của quân địch, cập bến Vũng Rô (Phú Yên). Từ đây, hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược đã được chuyển tiếp, chi viện cho chiến trường Khu V và Tây Nguyên, góp phần quan trọng trong cuộc chiến đấu của các lực lượng vũ trang Quân khu 5, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh, tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước... Những câu chuyện về tàu Không số và bến Vũng Rô mãi là khúc tráng ca bất tử trong lòng dân tộc.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đắc Thạnh (giữa), thuyền trưởng tàu 41, ba lần cập bến Vũng Rô, chi viện vũ khí cho chiến trường Khu V và Tây Nguyên. Ảnh: Phương Oanh

Bến tàu giữa lòng địch

Ông Ngô Văn Định, nguyên chiến sĩ Ðại đội K60 bảo vệ bến Vũng Rô, hiện là Phó ban liên lạc Bến tàu Không số Vũng Rô cho biết, giữa năm 1964, phong trào đấu tranh ở Khu 5 phát triển mạnh mẽ. Việc cung cấp vũ khí cho Khu 5 trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Nhận được chỉ thị của Trung ương về việc giao cho Phú Yên tiếp nhận vũ khí, Tỉnh ủy Phú Yên đã gấp rút tiến hành mọi mặt. Giữa năm 1964, Ban Chỉ huy bến Vũng Rô được thành lập do Bí thư Tỉnh ủy, Ủy viên Thường vụ Liên tỉnh 3 Trần Suyền phụ trách.

Vấn đề đặt ra là chọn nơi nào để vừa tiếp nhận tàu, vừa vận chuyển vũ khí về hậu cứ an toàn, trong khi tuyến biển nơi nào cũng có đồn bốt của địch? Hai phương án được đưa ra: Vịnh Xuân Đài ở thị xã Sông Cầu và bến Vũng Rô thuộc thị xã Đông Hòa ngày nay. Vịnh Xuân Đài có địa hình dễ đi lại, nhưng hành lang phía sau hẹp, khó cất giấu một lượng vũ khí lớn. Ở Vũng Rô, rừng thưa, toàn cây gai lúp xúp nhưng lại nhiều hang đá. Bến Vũng Rô vốn nước sâu, tàu vào không lệ thuộc thủy triều. Hơn nữa, khu vực này có các bãi cát có thể đón tàu vào bỏ hàng.

“Quyết định chọn bến Vũng Rô lúc ấy vẫn là rất mạo hiểm, bởi các hướng đều nằm trong tầm kiểm soát của địch. Ngay trên đỉnh đèo Cả là bốt Pơ-tí với 1 trung đội địch canh giữ. Phía biển, địch có 12 thuyền của Duyên đoàn 23 và ngoài khơi còn có Hạm đội 7 của Mỹ. Một nỗi lo khác, trạm ra đa của địch trên đỉnh núi Chóp Chài ở Tuy Hòa có bán kính quét rất rộng, tàu thuyền vào Vũng Rô khó lọt khỏi tầm ngắm. Tuy nhiên, khi địch chủ quan, đó là cơ hội cho ta” - ông Định hồi tưởng.

Theo ông Định, khi đó, ông 18 tuổi, vừa nhập ngũ được 1 năm, là chiến sĩ B miền Đông thuộc lực lượng vũ trang huyện Tuy Hòa. Nhận điều động của trên, ông cùng hơn chục đồng chí chuyển về đơn vị K60, làm nhiệm vụ rà soát, nắm tình hình ở Vũng Rô.

Cùng với rà soát tình hình, K60 còn xây dựng lực lượng du kích, dân công cho bến. Vùng quê Hòa Hiệp Nam của ông là vùng giải phóng, tinh thần cách mạng trong quần chúng rất mạnh mẽ. Những chiến sĩ ban đầu của K60 cũng xuất phát từ Hòa Hiệp Nam. Anh em K60 thường luồn rừng về làng, động viên người thân trong gia đình, họ hàng là cán bộ, quần chúng, đảng viên, đoàn viên, cơ sở cách mạng của xã Hòa Hiệp Nam sẵn sàng ủng hộ cách mạng.

Đêm 28-11-1964, Vũng Rô tiếp nhận chuyến hàng đầu tiên, từ chiều, bà con đã được gọi vào bến. Mọi người băng qua dãy núi dưới chân hòn Vọng Phu và mỏm Đá Bia, đến chực sẵn ở bến, không ai biết chuyện gì.

“Tàu vừa cập bến, tôi và hai đồng chí nhận lệnh ra đón tàu. Vừa lên được trên boong tàu, nghe nói, tàu chở vũ khí miền Bắc chi viện cho chiến trường Khu V, chúng tôi mừng đến nghẹn ngào. Ước ao và chờ đợi đã quá lâu rồi. Chốc lát, toàn bộ lực lượng tại bến được lệnh đã lập tức ùa xuống tàu bốc dỡ hàng, rồi chuyển vào các hang núi gần bến. Những khẩu súng, thùng đạn được bọc kỹ bằng nhiều bọc nhựa, rất nặng. Dân công người mang, vác, người chặt cây rừng làm cáng để khiêng chạy băng băng. Có nhiều chị lớn tuổi vác tới 12 cây súng, cứ liên tục đi lên, đi xuống để chuyển và giấu hàng. Tôi ôm khẩu súng được bao nhựa bọc kín, cảm nhận hơi ấm của hậu phương miền Bắc gửi vào mà thấy thiêng liêng, trào dâng hạnh phúc khó tả” - ông Định kể lại.

Những hải trình quyết tử

Nói đến bến tàu Không số Vũng Rô, nhiều người không thể không nhắc đến Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Trung tá Hồ Đắc Thạnh. Ông là người mở đường, trực tiếp làm thuyền trưởng, đưa tàu Không số 41 cập bến Vũng Rô đầu tiên. “Sau 7 chuyến vận chuyển vũ khí vào miền Tây Nam Bộ trở về, tháng 11-1964, tàu 41 do tôi làm thuyền trưởng được lệnh mở bến Vũng Rô. Hải trình đó, tàu đưa được 63 tấn vũ khí vào Vũng Rô. Rồi trong hai tháng sau đó, tàu 41 đi thêm 2 chuyến, tổng cộng vận chuyển 200 tấn vũ khí và 8 cán bộ tăng cường cập bến Vũng Rô an toàn” - ông Thạnh nói.

Kể về những hải trình chuyển vũ khí bằng tàu Không số, ông Thạnh cho biết, xuất bến từ Hải Phòng, tàu 41 được ngụy trang thành tàu của dân chài đánh cá. Thủy thủ trên tàu dùng loại cước cá chuồn trùm lên các khẩu súng 12 ly 7 để che mắt địch và khi cần thiết thì bung ra chiến đấu. Cá, mực trên tàu đều do Nhà máy Cá hộp Hạ Long cung cấp, khi cần thì mang ra phơi để tránh nghi ngờ.

Theo ông Thạnh, mệnh lệnh được đặt lên cao nhất là giữ bí mật tuyệt đối, không để địch phát hiện ra tuyến vận tải đặc biệt trên biển. Vậy nên, mỗi chuyến đi, các chiến sĩ đều ở tâm thế sẵn sàng hy sinh. “Mỗi tàu đều được cài sẵn những khối thuốc nổ lớn ở mũi, thân và đuôi, phòng khi bị địch phát hiện, các chiến sĩ sẽ tự kích nổ. Mặt khác, các thủy thủ, cán bộ trước khi lên tàu đều tuyệt đối không được viết thư, liên lạc với bất kỳ ai. Tất cả giấy bút, hồ sơ tùy thân, hình ảnh của cá nhân cũng đều phải bỏ lại miền Bắc” - ông Thạnh chia sẻ.

Chuyến đầu tiên sau 3 ngày vượt sóng to, gió lớn, tránh hết các chuyến tàu tuần tiễu của địch, 23 giờ 50 phút, ngày 28-11-1964, tàu 41 từ hải phận quốc tế đã cập bến Vũng Rô.

Tàu chỉ được phép ở lại bến Vũng Rô trong thời gian từ 24 giờ đêm đến 3 giờ sáng phải rời bến. Tuy nhiên, do lượng hàng đến 63 tấn, quá lớn so với dự kiến nên chi bộ tàu 41 thống nhất chọn phương án ở lại bến thêm một ngày để bốc dỡ xong, 3 giờ sáng ngày hôm sau rời bến.

“Mỗi chuyến tàu Không số vận chuyển ít nhất 50 tấn vũ khí, thuốc men, lương thực. Chưa kể, đường Vũng Rô lúc bấy giờ là đường rừng, đèo dốc, dây gai chằng chịt, thú rừng, cọp có thể nhào ra bất cứ lúc nào. Vậy nên, chuyện huy động kịp thời nhân lực tiếp nhận hàng trăm tấn vũ khí, chuyển vũ khí đến nơi cất giấu, tiếp tục chuyển lên căn cứ, bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ, nhanh gọn và tuyệt đối an toàn thực sự không đơn giản” - Ông Ngô Văn Định, Phó ban liên lạc Bến tàu Không số Vũng Rô nói.

Sau thắng lợi chuyến đầu, tàu 41 tiếp tục vào Vũng Rô hai chuyến nữa. Việc tiếp nhận vũ khí từ các chuyến tàu Không số đã được quân, dân Phú Yên tổ chức chu đáo, chặt chẽ. Từ bến Vũng Rô, những con đường mòn bí mật len qua khe núi, đèo dốc, với sự tham gia của hàng nghìn thanh niên xung kích, dân công ngày đêm vận chuyển hàng hóa, vũ khí về hậu cứ và tỏa đi khắp các chiến trường Nam Trung Bộ, trang bị kịp thời cho những trận đánh lớn, mở rộng vùng giải phóng.

Tháng 2-1965, Bộ Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ tàu 143 do thuyền trưởng Lê Văn Thêm phụ trách vận chuyển 60 tấn vũ khí vào Lộ Diêu (Bình Định). Đến nơi thì thủy triều xuống, tàu không vào được bến nên đã xin vào Vũng Rô. Ngày 15-2-1965, tàu 143 vào bến Vũng Rô, đến 3 giờ 30 phút hôm sau bốc dỡ hết vũ khí, nhưng tời neo hỏng, sửa xong thì trời đã sáng nên phải ngụy trang ở lại.

“Do tàu ngụy trang ngoài biển, không tạo thành khối liền với núi nên bị máy bay địch phát hiện. Địch đã dùng máy bay phóng 2 quả rốc két vào tàu 143, đồng thời, tăng cường 2 tàu hải quân và nhiều lực lượng bộ binh đánh chiếm tàu. Lực lượng bảo vệ tàu đã dùng bộc phá hủy tàu và kiên cường chống trả, không cho địch xâm nhập vào bến. Trận chiến bảo vệ bến và kho vũ khí tại bến, đã có 3 chiến sĩ K60 hy sinh” - Trung tá Thạnh nói.

Phương Oanh

Bình luận

ZALO