Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ năm, 02/12/2021 05:48 GMT+7

Báo Biên phòng - nơi tôi rèn luyện và trưởng thành

Biên phòng - Hơn 20 năm ở lực lượng Công an nhân dân vũ trang (BĐBP ngày nay), tôi đã có 12 năm làm phóng viên báo Biên phòng. Thời gian ấy tuy ngắn so với quá trình hơn 40 năm phục vụ cách mạng, nhưng là thời gian cam go, gian khổ ác liệt nhất trong suốt cuộc đời làm báo; thời gian ấy cũng đã giúp tôi trưởng thành qua rèn luyện và thử thách trong cuộc chiến đấu giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc.

565x342_8a-1.jpg
Tác giả (ngoài cùng bên trái) đang tác nghiệp ở Trạm Xà Xía, Kiên Giang năm 1977.

Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6), tôi bồi hồi nhớ về những năm tháng được sống và công tác trong lực lượng BĐBP và được làm phóng viên báo Biên phòng, một tờ báo đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu nặng.

Nhập ngũ năm 1963 thì đến tháng 8-1964, tôi được đi học Trường Sỹ quan Công an nhân dân vũ trang (nay là Học viện Biên phòng). Thời đó miền Bắc đã bước vào cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ; nhà trường phải sơ tán, làm lán trại để học tập trong những cánh rừng già. Vì học tập trong điều kiện cả nước có chiến tranh nên chỉ huy Tiểu đoàn và Đại đội phải vận dụng cho đọc báo trong giờ học viên ăn cơm trưa và chiều, tôi được cử làm nhiệm vụ đó.

Thế là sau khi từ thao trường về, tôi lên phòng chỉ huy nhận các loại báo về đọc, trong đó, tôi ưu tiên đọc báo Công an vũ trang đầu tiên và đọc hết từ trang đầu đến trang cuối cho học viên nghe, không bỏ sót tin nào. Suốt khóa học được làm công việc đọc báo cho đơn vị, tôi đã mê tờ báo của lực lượng, tuy giản dị, mộc mạc, nhưng giúp tôi và anh em học viên có thêm bài học thực tế về những công việc hằng ngày mà đồng đội đang làm ở trên hai tuyến biên giới.

Từ yêu quý, tôi bắt đầu mạnh dạn viết tin gửi về Tòa soạn. Tin đầu tiên gửi đi, tôi được hồi âm bằng một bức thư nhận xét và khuyến khích do đồng chí Thư ký Tòa soạn ký. Tôi xúc động và quyết tâm rút kinh nghiệm, tiếp tục viết gửi về báo Công an vũ trang, dĩ nhiên có tin được đăng, có tin không.

Năm 1966, ra trường hành quân về nhận công tác ở Trạm kiểm soát hành chính Nhật Lệ, Công an nhân dân vũ trang Quảng Bình, một vùng tuyến lửa ác liệt, gian khổ, suốt ngày đêm đội mưa bom, bão đạn từ máy bay, từ tàu chiến của Hạm đội 7 Mỹ từ ngoài biển bắn vào. Hồi đó có anh Đào Nguyên Bảo ở Ban Chính trị Công an vũ trang Quảng Bình về cùng tôi viết tin bài nơi địa bàn ác liệt này. Tin gửi đi nhưng lâu lâu tôi mới nhận được tờ báo Công an vũ trang gửi về.

Cuộc đời thật công bằng, có lẽ với tấm lòng yêu tờ báo của ngành mà đến tháng 8-1967, tôi được lệnh cùng anh Nguyễn Hữu Phát rời Quảng Bình ra Hà Nội để đi học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi được học cùng các anh đã từng làm phóng viên của báo như anh Phạm Trọng Bằng, anh Võ Hưng Tường và nhiều anh em khác từ các đơn vị được điều về.

4 năm học trôi qua, tôi được phân về Phòng Bảo vệ nội bộ do đồng chí Vũ Tá Lại làm Trưởng phòng. Tiếp xúc với công tác điều tra, công tác bảo vệ nội bộ và giáo dục ý thức cảnh giác với mọi âm mưu địch, tôi bắt tay vào viết chuyện cảnh giác, tường thuật vụ án, bài đăng trên báo Công an vũ trang, báo Công an nhân dân, báo Quân đội nhân dân và đọc trong các buổi phát thanh Vì an ninh Tổ quốc.

Khi cuộc chiến quyết liệt 81 ngày đêm ở Quảng Trị, ta giải phóng một số huyện phía Bắc Quảng Trị, tôi gặp các chiến sỹ trinh sát An ninh vũ trang trong một chuyến công tác cùng đồng chí Vũ Tá Lại, tôi viết chuyện phản gián đăng nhiều kỳ với tiêu đề "Cuộc săn đuổi bí mật" trên báo Tiền phong và nhiều báo khác.

Đầu năm 1972, tôi được điều về làm phóng viên báo Công an vũ trang. Ở đây được các anh Đặng Ngân, Dương Kiềm, Phạm Cao Đính, Tạ Hải, Trương Hiến, Sỹ Đô, những nhà báo lăn lộn và chịu bao gian truân, tách, nhập của tờ báo. Các anh vừa là đồng nghiệp, vừa là người thầy, người anh giúp tôi trong từng bài viết, công việc đầu tiên là tôi phải tập gõ máy chữ để viết bài. Có bài viết đưa cho anh Tạ Hải biên tập rồi đăng, đọc bài được đăng, tôi lặng im vì bài đó chỉ có tên là của tôi, còn các anh sửa chữa khá nhiều. Tôi lại rút ra bài học để viết và sau này được anh Dương Kiềm động viên, tôi thấy mình đã vững vàng hơn.

Những chuyến đi công tác bằng xe đạp, vượt qua trọng điểm ác liệt để vào Khu Bốn, lên Đồn BP Na Mèo (Thanh Hóa), Nậm Cắn (Nghệ An), Cầu Treo (Hà Tĩnh), Cha Lo, Ka Xèng, Làng Mô, Làng Ho (Quảng Bình), Cửa Tùng (Vĩnh Linh), có lần bị máy bay ném bom, xe và người nằm xuống vũng nước ướt hết áo quần, nhưng quyết giữ máy ảnh để còn hoạt động.

Kỷ niệm sâu sắc nhất là tôi cùng các anh Tạ Hải, Nguyễn Đức Thiện được đi cùng ba đoàn tham gia chiến dịch mùa xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh. Tôi đi cùng đoàn do đồng chí Vân Hùng, Cục trưởng Cục Trinh sát làm Trưởng đoàn. Cuộc hành quân của chúng tôi từ Quảng Trị vào Huế, Đà Nẵng và vào phía Nam.

Niềm vui đất nước thống nhất chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới Tây Nam diễn ra quá bất ngờ. Tôi được đồng chí Tám Lê Thanh gọi đi cùng về Tịnh Biên, An Giang để phản ánh cuộc chiến đấu của quân và dân ta chống quân Pôn Pốt diệt chủng.

Trở về Hà Nội sau những ngày lăn lộn với đồng bào và chiến sỹ ở biên giới Tây Nam, sức khỏe dần ổn định thì chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Sáng hôm sau, tôi lên Lạng Sơn đi cùng các chiến sỹ vào Đồn CANDVT Hữu Nghị. Cuộc chiến ở Đồng Đăng nơi Lê Đình Chinh, Trung đoàn 12 CANDVT hy sinh, nơi chiến sỹ Nông Văn Pheo bảo vệ pháo đài Đồng Đăng, tôi đến với các chiến sỹ giữ chốt ở bình độ 400, đi trong tiếng pháo của địch bắn sang, đã làm một nhà báo Nhật Bản tử nạn.

Chứng kiến sự tàn phá của kẻ thù và nhiều tấm gương chiến đấu kiên cường chống trả quyết liệt, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc, tôi viết bài ký "Lai Châu khí phách Điện Biên" đăng báo Quân đội nhân dân với bút danh "Quyết thắng", bài bút ký được giải ba giải báo chí viết về chiến tranh biên giới, năm 1979.

Năm 1983, tôi vào thành phố Hồ Chí Minh, sau đó đến với các đơn vị Biên phòng đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia, như: Trung đoàn 8, Trung đoàn 14, Đoàn 10 và Trung đoàn 2. Các đơn vị BĐBP chốt giữ nơi gian khổ, khó khăn và ác liệt. Được sống và chiến đấu, chứng kiến cảnh thiếu thốn và hy sinh của cán bộ, chiến sỹ càng thúc giục tôi phải đền đáp sự hy sinh lớn lao của anh em.

Về thành phố Hồ Chí Minh, tôi đóng cửa viết nhanh một tập chuyện ký với tiêu đề "Những người con trên đất bạn" được in và phát hành tại Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Tập sách được chuyển sang cho các đơn vị Biên phòng đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia.

Bây giờ mỗi lần cầm tờ báo Biên phòng do Tòa soạn gửi cho, lòng tôi cứ xốn xang và cảm thấy như mình đang cùng đồng nghiệp báo Biên phòng hôm nay đi tiếp chặng đường mới.
Phạm Xuân Lục

Bình luận

ZALO