Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ bảy, 28/11/2020 05:30 GMT+7

Bắc Mê - bên dòng sông Gâm

Biên phòng - Cách thành phố Hà Giang gần 60 cây số, Bắc Mê là một huyện miền núi vùng sâu nằm ở phía Đông Nam của tỉnh ''cực Bắc" Tổ quốc. Bắc Mê theo tiếng địa phương là Pác Mìa, có nghĩa là cửa ngòi. Đây là vùng đất có nhiều sông suối và nguồn thiên nhiên tài nguyên phong phú cùng một không gian sơn thủy hữu tình với biết bao cảnh đẹp kỳ vĩ đến ngỡ ngàng. Trong bức tranh sơn thủy ấy, sông Gâm hiện ra như là một trong những ngọn nguồn sự sống chủ đạo của các cư dân bản địa từ bao đời nay.

1uqm_20a
 Đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân trên sông Gâm. Ảnh: Giang Hiền Sơn

Bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), sông Gâm có chiều dài 297km, trong đó, phần chảy trên đất Việt khoảng 217km qua địa phận tỉnh Cao Bằng ở vùng đất Na Động, rồi uốn mình lượn qua những đoạn đèo quanh co, len lỏi dưới những sườn núi chênh vênh, dựng đứng và nhận thêm nước từ dòng Nho Quế từ Lũng Cú (Hà Giang), rồi buông mình theo hình cánh cung hòa vào những dãy núi đá phiến thạch anh của các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang để tạo nên những cảnh quan tự nhiên tuyệt mỹ, được ví như một Hạ Long trên cạn giữa chốn sơn cùng thủy tận.

Sông Gâm chảy trên đất Bắc Mê khoảng 45km giống như một dải lụa vắt ngang qua những ngọn núi để hợp vào sông Năng, đưa nước vào lòng hồ thủy điện Tuyên Quang. Trên hành trình ấy, từ bao đời nay, dòng sông đã trở thành cội nguồn văn hóa, gắn liền với mạch sống của các thế hệ cư dân quần cư dọc bên đôi bờ mà chủ yếu là đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng...

Xuôi theo dòng sông, những hôm đẹp trời, ta như thể được đi trong chốn bồng lai với cảnh trời cao mây trắng bồng bềnh che phủ những tán rừng xanh biếc cùng mặt nước trong xanh phẳng lặng, in bóng các vách đá  hùng vĩ dựng đứng. Thấp thoáng trên dòng sông là những chiếc thuyền nan hay chiếc mảng tre của các ngư phủ đang lặng lẽ buông câu, thả lưới. Thỉnh thoảng tiếng mái chèo khua nước hay tiếng cá quẫy làm cho dòng sông xao động. Cảnh vật dòng sông và đôi bờ đẹp, tĩnh lặng đến mê hồn.

Sông Gâm, từ xưa đã từng nổi danh trong thiên hạ với "ngũ quý hà thủy" (năm loại cá sông quý): Anh Vũ, cá lăng, cá dầm xanh, cá bống, cá chiên. Trong "ngũ quý hà thủy" đó thì loại cá anh vũ được coi là đặc sản độc nhất vô nhị, chuyên dùng để "tiến vua". Người ta bảo rằng, sông có cá Anh Vũ rất hiếm, cá Anh Vũ chỉ sống ở những nơi nước chảy xiết, hang vực sâu hay các gầm đá trên thượng nguồn. Ngoài những loài cá quý hiếm, sông Gâm còn nổi tiếng với mỏ tôm Pó Củng ở Yên Phú. Tôm Pó Củng thịt ngon và chắc, khi rang vỏ đỏ au. Mỏ tôm này đã từng có thời kỳ nhiều vô kể, đen đặc mặt sông. Tuy nhiên, những năm gần đây, nước sông dâng cao tràn mỏ nên tôm đã bỏ đi nơi khác. Bây giờ, mỏ tôm này chỉ còn trong ký ức của những người dân bản địa.

Đi trên sông Gâm, hòa mình trong những cảnh đẹp huyền ảo giống như một bức tranh thủy mặc của non xanh nước biếc, bất chợt, ta ngẩng đầu nhìn lên đôi bờ, hẳn sẽ ngạc nhiên và thích thú vô cùng, khi tận mắt nhìn thấy những nếp nhà sàn bên lưng chừng núi ẩn hiện, thấp thoáng dưới tán cọ, sau những khúc cua. Cảnh vật ấy tựa như miền cổ tích xa xôi nào vậy đang hiện lộ giữa chốn trần gian.

Có những chiều hôm, khi mặt trời đang dần dần buông xuống bên kia sườn núi, như thể đem chút ánh sáng cuối cùng của ngày tàn gửi vào đêm tối, thấp thoáng bên sông, trên những triền núi, ta thấy khói lam chiều như màn sương mỏng manh chờn vờn trên những mái nhà lợp cọ; phía xa xa, xuyên qua màn đêm, ẩn hiện những ánh lửa bập bùng. Cảnh ấy càng làm cho chốn thâm sơn hiện lên như thực mà cũng như mơ. 

"Phiêu" trên Bắc Mê, sông Gâm đâu phải chỉ có cá, nước, trời, mây, cây, núi… mà trên hành trình lịch sử hàng vạn vạn năm, con sông lúc hung dữ, khi hiền hòa ấy còn mang bên mình, lưu giữ những dấu tích của sự sống loài người, tổ tiên của người Việt cổ từ hàng nghìn năm về trước. Bằng chứng là, trong đợt khảo sát tuyến du lịch lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, các nhà khoa học của Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng Hà Giang đã phát hiện ra hang Khuổi Nấng ở xã Thượng Tân (nằm trên độ cao 7m so với với cốt nước khi cao nhất) những dấu tích của người tiền sử với hàng trăm di vật đá, bao gồm những công cụ lao động như cuốc tay để đào xới đất, rìu, dao dùng để chặt đập; công cụ nạo cắt, chày nghiền, mảnh tước...

Đặc biệt, các nhà khoa học đã tìm thấy hai ngôi mộ táng trong đá, đây là hình thức mai táng hiếm gặp trong văn hóa tiền sử ở nước ta. Giải mã ngôi mộ, các nhà khoa học đã nhận ra một thông điệp về nhân sinh "con người sinh ra từ đá và chết lại trở về với đá" của người đương thời cách đây khoảng từ 4.000 đến 7.000 năm.

Cảnh sắc Bắc Mê bên bờ sông Gâm thay đổi theo mùa. Mùa nào cũng thơ mộng, quyến rũ, khiến khách phương xa như phải lòng. Khi mùa xuân về, tiết trời ấm áp xua tan cái giá lạnh của mùa đông cũng là dịp để hoa đào thi nhau khoe sắc. Đâu đó, trên những tầng không, từng đàn chim chao đi chao lại rộn ràng; bên các vách núi trên sông vang vọng, lảnh lót tiếng líu lo chim hót và các bản người Tày rộn rã, tưng bừng vào lễ hội, vui nhất là hội Lồng Tồng.

Hè sang, những cơn mưa thi nhau kéo về, nước sông dâng cao hơn, ở những chỗ thác ghềnh, dòng nước không còn vẻ hiền hòa mà ồn ào, hung dữ. Sang thu, đi bên đôi bờ sông Gâm vào buổi sớm mai trong tiết heo may se lạnh, bờ cây, ngọn cỏ bên đường vẫn đượm một màu xanh mướt còn đọng những giọt sương đêm trĩu nặng, giăng mắc như tơ và khi những tia nắng vàng như màu mật ong nhảy tung tăng trên các triền đồi, bên các sườn non thì bầu trời cũng trở nên trong veo; khi chiều đến, muôn nghìn tia nắng xiên qua núi đá, nhuộm vàng những nương lúa, nương ngô làm rạo rực lòng người.

Đông đến, mặc cho những cơn gió lạnh buốt, mặc cho mặt sông mờ ảo, sương khói giăng giăng thì núi cao vẫn cao, mây trắng vẫn cứ phủ thành tầng tầng lớp lớp và cảnh sắc hai bên bờ sông cũng không kém rực rỡ sắc màu. Đâu đó trên những triền núi hay những vạt rừng, ta vẫn thấy vàng hoe lá phủ, dọc bên đường đi vẫn thấp thoáng hoa dã quỳ đơm bông vàng rực.

3be4_20b
 Cảnh sắc trên sông Gâm được ví như "Hạ Long trên cạn". Ảnh: Giang Hiền Sơn

Bên bờ sông Gâm, Bắc Mê còn in đậm những trang sử hào hùng của quê hương cách mạng. Vào khoảng thập niên 30, 40 của thế kỷ trước, thực dân Pháp đã cho xây dựng Căng Bắc Mê (trên núi Rồng, bản Đồn Điền, xã Yên Cường) giữa chốn sơn cùng thủy tận để làm trại binh và sau chuyển thành nhà tù, giam giữ hơn 300 chiến sĩ Cộng sản, trong đó có các đồng chí Xuân Thủy, Hoàng Hữu Nam, Lê Giản, Đặng Việt Châu...

Với tinh thần nồng nàn yêu nước, cùng ý chí kiên cường, bất khuất, các chiến sĩ cách mạng ở Căng Bắc Mê đã bền bỉ tranh đấu, biến nhà tù thành trường học chính trị. Chính nơi đây, Chi bộ Đảng đã ra đời, trở thành nơi giáo dục, giác ngộ cách mạng trong tù. Các tù nhân đã truyền tai nhau lý tưởng cộng sản, tiếp cho nhau sức mạnh và tình thương, tạo động lực để cố gắng vươn lên vì một ngày mai tươi sáng cho quê hương. Ghi nhận các giá trị và ý nghĩa của nhà tù Cộng sản Bắc Mê, năm 1992, Căng Bắc Mê đã được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử cách mạng quốc gia.

Không có những thửa ruộng bậc thang ngàn bậc như Hoàng Su Phì, không có những phiên chợ rực rỡ sắc màu như ở Mèo Vạc, không có những cánh đồng đá tai mèo ngút ngàn như cao nguyên Đồng Văn, nhưng Bắc Mê vẫn hút hồn du khách bởi những cảnh đẹp quyến rũ, mê hồn của đất và người, của dòng sông Gâm, của những dấu tích lịch sử - văn hóa phong phú, đa dạng và mang đậm bản sắc bản địa. Bắc Mê và đôi bờ sông Gâm sẽ mãi là một bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng miền biên viễn địa đầu cực Bắc.

Giang Hiền Sơn

Bình luận

ZALO