Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ hai, 30/11/2020 05:20 GMT+7

Bác Hồ trong trái tim đồng bào miền Nam

Biên phòng - Sinh thời, Bác Hồ luôn dành tình cảm nhớ thương đối với đồng bào và chiến sĩ miền Nam, những người "đi trước về sau", luôn kiên cường trong gian khổ, đấu tranh, xứng đáng với danh hiệu Thành đồng Tổ quốc.

kltr_8a
Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam  năm 1969. Ảnh: Tư liệu

"Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi"

Không một lời nào, không một từ nào và không có một cách nói nào để có thể kể hết được tình cảm của Bác với miền Nam, mà chỉ biết rằng miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim của Bác. Trong hàng ngàn bức thư, bức điện, bài nói, bài viết, trả lời phỏng vấn... Bác Hồ luôn dùng những lời lẽ cao quý nhất, trang trọng và tha thiết nhất để ca ngợi tinh thần bất khuất, kiên cường, lòng yêu nước sâu sắc của đồng bào, chiến sĩ miền Nam. Người tặng danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" cho nhân dân miền Nam, tặng phụ nữ miền Nam tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"....

Bác nói: Để hoan nghênh phái đoàn miền Nam ruột thịt thì có nói mấy trăm câu, mấy nghìn câu, mấy vạn câu cũng không thể hết được. Tôi chỉ xin nói một câu thôi: "Bao giờ Nam Bắc một nhà/ Việt Nam đại thắng chúng ta vui mừng". Và Bác xúc động nhắc lại điều Bác đã từng nói nhiều lần: "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi...".

Chính vì thương nhớ đồng bào và chiến sĩ miền Nam, nên khi có các đoàn đại biểu của miền Nam ra Bắc, dù đi công tác, đi họp, học tập hay tham quan, chữa bệnh, Bác đều sắp xếp đến thăm. Người tiếp các anh hùng và chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam... đặc biệt là tình cảm của Bác dành cho cán bộ, chiến sĩ miền Nam, những người đang chiến đấu trên tuyến đầu chống Mỹ...

Vào năm 1954, gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) ngụ tại Cà Mau - đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác cây vú sữa. Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc và Bác đã trồng ngay cạnh ngôi nhà nhỏ ở góc vườn trong Phủ Chủ tịch. Năm 1958, khi chuyển về ở và làm việc tại nhà sàn, Người gợi ý chuyển về trồng cạnh nhà sàn để hằng ngày được nhìn thấy cây vú sữa của miền Nam, như luôn được gần đồng bào, chiến sĩ miền Nam thân yêu... Ngày 20-10-1962, lần đầu tiên đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc, xúc động ôm hôn Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, Bác đã đặt tay lên ngực mình và nói: "Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi".

Vào năm 1963, khi Quốc hội quyết định trao tặng Hồ Chủ tịch Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta - Bác đã cảm ơn Quốc hội và đề nghị cho phép chưa nhận phần thưởng cao quý này. Người nói: "Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình, thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân sẽ sung sướng, vui mừng".

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân miền Nam đã chiến đấu kiên cường, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Bác cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tập trung sức lực, trí tuệ chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam, theo dõi sát sao tình hình chiến sự đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên chiến trường miền Nam. Người chú trọng đặc biệt tới việc chi viện cho cách mạng miền Nam.

Người tin rằng với tinh thần đoàn kết, bền bỉ, anh dũng trong chiến đấu và quyết thắng của nhân dân miền Nam, với những kinh nghiệm chiến đấu trong gần 20 năm, được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đồng tình và ủng hộ, nhân dân miền Nam nhất định thắng lợi. Miền Nam chiến đấu ngoan cường, hy sinh gian khổ, Bác nhiều lần nghẹn ngào, quặn đau khi được nghe báo cáo về sự hy sinh mất mát của đồng bào miền Nam...

Người gửi thư chúc mừng khi được tin đồng bào miền Nam đạt nhiều thành tích trong chiến đấu, động viên quân và dân miền Nam cố gắng hơn nữa: "Đầu Xuân năm nay, quân và dân miền Nam anh hùng đã tiến công địch liên tục, đều khắp, đánh rất giỏi, thắng rất to... Bác rất vui lòng gửi đến các cô, các chú lời khen nhiệt liệt nhất, thân ái nhất. Giặc Mỹ đã thua nặng. Nhưng chúng vẫn chưa bỏ dã tâm xâm lược, chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta. Vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ, ngụy thất bại hoàn toàn, cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng".

Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

 Miền Nam là máu thịt của Việt Nam, nghe theo lời kêu gọi của Bác, biết bao trai thanh, nữ tú ở miền Bắc đã nô nức xẻ dọc Trường Sơn vào Nam đánh giặc Mỹ, "trùng trùng quân đi như sóng". Phong trào thi đua "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt"; hay "thanh niên ba sẵn sàng"; "phụ nữ ba đảm đang"; nông thôn thi đua "chắc tay súng, vững tay cày", đảm bảo "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" được đồng bào ta ở khắp các cơ quan, trường học, nông thôn, thành thị, miền ngược, miền xuôi hưởng ứng mạnh mẽ. Công trường, nhà máy làm việc ba ca, người ở lại làm thay người ra trận. Những đoàn xe hối hả ngày đêm, nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Tất cả vì miền Nam ruột thịt! Cả dân tộc tiến lên theo lời hịch truyền của Bác: "Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào, Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn". Ý chí, tinh thần tấn công đó đã góp phần quan trọng cho thắng lợi của chiến dịch mùa Xuân 1975 sau này.

Bác mong được vào miền Nam để thăm đồng bào và chiến sĩ. Ước mong đó luôn thường trực trong tâm trí của Người. Tháng 9-1954, trong thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, Bác viết: "Đến ngày hòa bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó, rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta". Nhiều lần Bác gửi thư cho Bộ Chính trị yêu cầu bố trí để Người đi thăm hỏi, động viên đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang chiến đấu gian khổ. Nhưng do tuổi đã cao, sức yếu nên ước nguyện của Bác vẫn chưa thành.

Đầu năm 1968, trong thư gửi đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bác nói rõ ý định, nêu cách đi, thời gian và lịch trình cho chuyến đi vào miền Nam của mình. Tháng 3-1969, đã 79 tuổi, cái tuổi "xưa nay hiếm" nhưng khi gặp các đồng chí Phạm Hùng và Hoàng Văn Thái từ miền Nam ra họp, Bác vẫn nhắc tới việc vào thăm miền Nam. Trước khi hai đồng chí trở lại chiến trường, Người hỏi: Các chú có thể chuẩn bị cho Bác sớm vào thăm đồng bào miền Nam được không? Đồng chí Phạm Hùng và đồng chí Hoàng Văn Thái đã xúc động thưa: "Chúng cháu nhất định hoàn thành nhiệm vụ để sớm rước Bác vào Nam". Người nói: Hai chú cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào miền Nam, thăm cán bộ dân chính Đảng, thăm cán bộ và chiến sĩ trong quân đội. Các chú phải nhớ chuyển lời này cho Bác.

Suốt mấy chục năm, không một phút nào là Bác không nghĩ đến đồng bào miền Nam ruột thịt và khi từ biệt thế giới này, Bác cũng mang theo trong mình hơi ấm của miền Nam. Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Người đã để lại bản Di chúc với những dòng thiết tha, thương nhớ hướng về miền Nam và khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn: "Dù khó khăn, gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi... Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà...".

Đăng Bảy

Bình luận

ZALO