Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 14/04/2021 09:24 GMT+7

"Già hóa dân số" ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức

"Già hóa dân số" ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức

Biên phòng - "Già hóa dân số" đang có chiều hướng diễn ra rất nhanh ở khắp các quốc gia trên thế giới với mức độ khác nhau, nhưng nhanh nhất ở các quốc gia đang phát triển, trong đó, điển hình là Việt Nam. Có thể nói, "già hóa dân số" là một trong những thành tựu lớn của nhân loại, chứng minh sự cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế-xã hội, mang tới những cơ hội lớn lao cho mỗi cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề đặt ra nhiều thách thức, ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển và ổn định của mỗi nước.

 16012b.gif
Người cao tuổi huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia sản xuất tại gia đình.
Đặc điểm "già hóa dân số" ở Việt Nam

Theo Điều tra biến động dân số - kế hoạch hóa gia đình 2010, 2011 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ người có độ tuổi trên 60 và 65 ở Việt Nam chiếm gần 10% và 7% tổng dân số. Như vậy, chiếu theo Quy ước của Liên hợp quốc, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn "già hóa dân số". Đáng lưu tâm hơn, thời gian để Việt Nam chuyển đổi từ giai đoạn "già hóa" sang cơ cấu "dân số già" là khoảng 20 năm, ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao, như Mỹ: 69 năm; Anh: 45 năm; Nhật Bản và Trung Quốc: 26 năm.

Có được kết quả này là do tuổi thọ bình quân của người Việt Nam ngày càng tăng lên nhanh chóng, trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết lại giảm mạnh. Khuynh hướng nhân khẩu học này, ngoài những cơ hội mà nó mang lại cũng đang đặt ra cho Chính phủ Việt Nam nhiều thách thức to lớn trong việc xây dựng và hoạch định các chính sách kinh tế, cũng như các chương trình an sinh xã hội cần thiết và phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi, nhóm người được coi là nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất.

 Điều tra Quốc gia mới nhất về người cao tuổi Việt Nam năm 2011 cho thấy, người cao tuổi Việt Nam có hai đặc trưng nổi bật nhất là đời sống vật chất còn nhiều khó khăn và sức khỏe hạn chế. Hiện tại, chỉ có hơn 25,5% người cao tuổi ở Việt Nam sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội, còn lại trên 70% người cao tuổi không có tích lũy vật chất, phải tự lao động kiếm sống cùng với sự hỗ trợ của con cháu và gia đình. Bên cạnh đó, về sức khỏe, tuy người cao tuổi ở Việt Nam có tuổi thọ trung bình cao (73 tuổi), nhưng gánh nặng bệnh tật cũng rất lớn, với khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền.

Có thể nói, đặc trưng này xuất phát từ thực tế, thế hệ người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay được sinh trưởng trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên đa phần không có điều kiện chăm sóc sức khỏe và tích lũy. Hơn nữa, trên 70% người cao tuổi Việt Nam hiện đang sống ở khu vực nông thôn, trong khi, tỷ lệ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, sản xuất khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, dẫn đến thu nhập của người nông dân nói chung và người cao tuổi nói riêng còn gặp nhiều khó khăn.

Cùng với đó, hiện đa phần người cao tuổi đang sống cùng con cháu, trong khi loại hình gia đình Việt Nam đang có xu hướng chuyển dần từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hạt nhân với chỉ một cặp vợ chồng và con cái. Xu hướng này sẽ làm tăng thêm trạng thái cô đơn của người cao tuổi do họ sẽ ít được con cháu chăm sóc hơn như gia đình truyền thống. Bên cạnh đó, một thực tế, người cao tuổi với nhiều kinh nghiệm, tiềm năng và nhu cầu được cống hiến, là lớp người có nhiều đóng góp cho gia đình và xã hội, nhưng vai trò của họ chưa được xã hội nhìn nhận một cách đúng mức. Chính điều đó làm cho người cao tuổi Việt Nam cũng đang phải đối mặt với không ít những vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần, bên cạnh vấn đề về vật chất và sức khỏe.

Cam kết của Chính phủ

Có thể nói, "già hóa dân số" không còn là vấn đề của riêng mỗi quốc gia mà nó đã trở thành xu hướng nổi bật của thế kỷ 21. Vấn đề này cần có sự hợp tác và thống nhất hành động dưới một nguyên tắc chung. Đó chính là lý do để Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định, từ năm 1991, lấy ngày 1-10 hàng năm là Ngày Quốc tế người cao tuổi và tại Hội nghị quốc tế người cao tuổi lần thứ 2 tại Ma-đrít - Tây Ban Nha năm 2002, Chương trình Hành động Ma-đrít về người cao tuổi (MIPAA) đã chính thức được thông qua.

Đây được coi là một chương trình hành động toàn diện dành cho các Chính phủ, các tổ chức xã hội cũng như các tổ chức có liên quan, nhằm xây dựng một xã hội công bằng cho tất cả mọi người, tất cả các lứa tuổi. Chương trình hành động này là sự cam kết của các Chính phủ về việc tích hợp quyền và nhu cầu của người cao tuổi trong các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia và quốc tế, nhằm đạt được Mục tiêu Thiên niên kỷ là giảm một nửa số người sống trong nghèo đói vào năm 2015.

Thực hiện những cam kết của mình với cộng đồng quốc tế cùng với truyền thống "Kính lão trọng thọ" của dân tộc Việt Nam, vấn đề người cao tuổi đã được đề cập đến ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946). Và sau đó, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành rất nhiều chủ trương, chính sách khác đối với người cao tuổi, đặc biệt là Luật Người cao tuổi Việt Nam đã chính thức được thông qua tại Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 ngày 23-11-2009, với một hệ thống chính sách được thể chế hóa một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện.

Cùng với đó, năm 1995, Chính phủ đã quyết định thành lập hai cơ quan chuyên trách về người cao tuổi. Đó là Hội Người cao tuổi Việt Nam với mạng lưới rộng khắp từ Trung ương đến tận các thôn, sóc, bản, làng. Đến nay, đã có 11.098/11.112 xã, phường, thị trấn có tổ chức Hội Người cao tuổi với hơn 7,7 triệu hội viên. Và để nâng cao hơn nữa vai trò quản lý Nhà nước đối với các vấn đề của người cao tuổi, năm 2004, Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi cũng đã được thành lập, do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là Phó Chủ tịch Thường trực và Chủ tịch Hội Người cao tuổi làm Phó Chủ tịch và lãnh đạo một số bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể làm thành viên.

Đến năm 2005, Chính phủ ban hành Chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2005-2010 và Chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012-2020 cũng sắp được thông qua với việc nhấn mạnh vấn đề người cao tuổi sẽ trở thành trung tâm trong các chương trình, chính sách và đề án của Chính phủ. 

Cơ hội và thách thức

Cùng với quá trình "già hóa dân số", Việt Nam cũng đang ở trong thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" (tỷ lệ người trong độ tuổi lao động lớn hơn tỷ lệ người trong độ tuổi phụ thuộc). Có thể nói, lợi thế "dân số vàng" nếu được tận dụng tốt, sẽ là điều kiện để cải thiện cuộc sống cho nhóm dân số cao tuổi trong tương lai. Bởi vậy, đầu tư cho y tế, giáo dục và công việc ổn định cho thế hệ thanh niên hiện tại đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các nhu cầu của thế hệ người cao tuổi kế tiếp.  

Song song với những thuận lợi nói trên, Việt Nam vừa mới thực hiện chính sách giảm sinh, bắt đầu từ năm 1999 đã lại bước vào giai đoạn già hóa dân số năm 2011. Điều này đã khiến cho hệ thống an sinh xã hội, hệ thống chăm sóc sức khỏe chưa kịp hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi, đặt ra nhiều thách thức trong công tác lập kế hoạch và hoạch định chính sách. Hơn nữa, một bộ phận xã hội còn có quan niệm thiên lệch về người cao tuổi, cho rằng người cao tuổi là gánh nặng, do đó chưa có những nhận thức và hành vi thích ứng với xã hội "già hóa".

Bên cạnh đó, theo Kết luận số 305-TB/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 3-2-2010, thì "Nhận thức và trách nhiệm của một số cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành về người cao tuổi và tổ chức Hội Người cao tuổi còn chưa đầy đủ". Chính điều đó là những rào cản không nhỏ trong việc phát huy lợi thế cũng như khẳng định vai trò tích cực của nhóm dân số cao tuổi đóng góp vào sự phát triển ổn định và bền vững trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước.

Khánh Ngọc

Bình luận

ZALO