Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Thứ tư, 01/12/2021 10:51 GMT+7

51 năm chuyện vận tải thuyền buồm

Biên phòng - 51 năm về trước, tuyến vận tải đường biển đã có nhiều con thuyền bầu chở hàng xuôi ngược, vận hành bằng sức gió. Tôi đã đi dọc làng biển miền Trung, tìm kiếm những nhân chứng cuối cùng còn sót lại để đặt ra câu hỏi: “Thời đó, ngư dân đi biển dựa vào những tấm hải đồ gì để xác định phương hướng?”. Hóa ra, hải đồ chính là những câu hò, vè mô tả gành đá, bãi san hô, nơi nguy hiểm để ngư dân lánh nạn, trở về an toàn.

Hình ảnh chiếc ghe bầu xứ Quảng Nam xưa được phục dựng và triển lãm tại Bảo tàng Đà Nẵng. Ảnh: Văn Chương

Năm 1950, làng Nguyễn Chỉ nằm ở bờ Bắc dẫn ra cửa biển An Hòa, xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là một vùng quê nghèo, nửa nông, nửa biển. Ông Lương Văn Ngao, sinh năm 1921, cùng với thợ thuyền thường chuẩn bị mở biển vào dịp đầu năm. Ở những cửa biển tiếp nhận hàng hóa như Đà Nẵng, Hội An, Sa Huỳnh, Thuận An, chiếc ghe bầu chở trăm tấn hàng hóa mỗi khi khởi hành thì phải huy động cả xóm ra “hích” để đẩy ghe đi. Người ta buộc dây trước mũi ghe và vòng ra những con quay, cột tre ở ven bờ rồi hò dô cùng đẩy để chiếc ghe bầu nhúc nhắc, di chuyển. Khi ghe có đà thì tiếng hò dô càng to hơn để trên ghe, buồm ưng, buồm lòng bật ra.

Ghe bầu rời cửa biển An Hòa để bắt đầu xuôi vào Quảng Ngãi chở muối thì không cần phải huy động trăm người để “hích”, vì ghe có khi “rỗng bụng” trong ngày khởi hành. Ông Lương Văn Ngao, người có những chuyến đi ngao du khắp nơi, từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi, ra Thừa Thiên Huế, là một trong những người cầm lái ghe bầu. Mỗi chuyến đi về, người ta ngồi nghe ông kể đủ chuyện trên đời và ông Hoàng Lụa lại ngồi hóng chuyện để lưu lại bằng những câu hò, vè dễ nhớ, dễ thuộc, truyền lại cho cả làng. “Chiều chiều mà vác lưới xuống ghe/ Gạo, nước, muối, chè, vợ gánh mang theo/ Ơ... nhổ sào xuống lái thẳng lèo/ Gió trong thổi mạnh gác chèo mà chạy ra...ơ... hò là hò ơi!”.

Những câu vè mà ông Hoàng Lụa từng sáng tác đã phác họa được hình ảnh chiếc ghe bầu, ghe đánh cá được chuẩn bị từ lúc chiều hôm trước và khởi hành vào lúc sáng sớm hôm sau. Dân chài hay nói “gió đất”, tức gió trong đất liền thổi ra biển từ lúc 4 giờ sáng, đó là lúc ghe bầu có thể xuất bến thuận lợi nhất, nương theo gió bờ để “gác chèo mà chạy ra”.

Những người lái ghe bầu thường được dân gian gọi là Cát Lái. Sau chuyến biển, vợ con của Cát Lái lại ngồi nhà chờ đợi ngư dân thuận lợi trở về. Cát Lái thời đó được xem như có “của ăn của để” trong vùng. Nhưng ở vào thời cuộc mà ai cũng nghèo khó thì cái giàu của Cát Lái cũng chả thấm vào đâu. Có những gia đình, khi Cát Lái đi biển thì vợ con ở nhà chỉ ăn rau, củ qua ngày.

Làng Nguyễn Chỉ giờ đây đã mang tên là xã Tam Giang. Chuyện ghe bầu đã không mấy ai nhắc đến nữa. Những người lớn tuổi nhớ mãi cũng chỉ tính ra được tên của vài người cầm lái ghe bầu thời đó là ông Huỳnh Phàn, Lương Văn Xiêm, Lương Văn Ngao. Mỗi khi xuất bến, chiếc ghe bầu của ông Ngao thường đi về cửa biển Sa Huỳnh nằm cuối tỉnh Quảng Ngãi, là nơi có vựa muối Tân Diêm, chỉ đứng thứ 2 sau vựa muối Đề Gi của tỉnh Bình Định. Khi ghe vào cửa Sa Huỳnh, các ông lái đều dừng lại ở bờ Đông của cửa biển vào dinh bà Thánh Ngọc Thiên Y A Na nằm ngay chân núi để trình báo và cúng lễ vật.

Những bậc cao niên ở cửa biển Sa Huỳnh từng kể lại rằng, ghe bầu Quảng Nam vào cửa thì Cát Lái đều thể hiện lòng thành kính vì bà Thánh Ngọc Thiên Y A Na đã phò trợ cho chiếc ghe xuôi ngược trên biển thuận lợi. Tùy theo điều kiện kinh tế mà mỗi ông lái dâng lễ vật có giá trị khác nhau, nhưng nhiều người thể hiện lòng thành bằng cách quàng vào cổ bà một sợi dây chuyền vàng để trả lễ.

Ghe bầu được in trên con tem thời Pháp thuộc. Ảnh: Tư liệu

Giới Cát Lái ai cũng thuộc bài vè chỉ địa danh, kèm theo “thông tin cảnh báo để tránh bị mắc cạn”: “Kể từ Cát Lái đi buôn/ Anh em ngồi buồn gác bút ngân nga/ Kể từ Nam Định kể ra/ Anh em thuận hòa bắt Huế kể vô”. Khi ghe bầu tới cửa biển Đà Nẵng, giới Cát Lái lại nhắc những câu vè định hướng cho ghe: “Cửa Hàn còn ở trong xa/ Trước mũi Sơn Trà lại có con nghê”. Khi đi qua cửa An Hòa, những câu vè lại được gióng lên: “Ôm ấp hà bứa có rạng trời sinh/ Bàng thang cửa sễ mà xuống kinh An Hòa...”. Khi ghe bầu qua tới điểm giáp ranh với Quảng Ngãi hiện nay là Dung Quất, Cát Lái sẽ nhắc câu: “Thái Cần, Châu Ổ bao xa/ Phía trong cây quýt mà ngoài đà tổng binh”.

Bài vè khoảng 150 câu phổ biến tới mức, nếu thời trước, đi dọc các làng biển thì rất nhiều người thuộc nằm lòng. Bởi vào dịp Tết, ngày lễ thì bài vè đi biển bao giờ cũng là tiết mục không thể thiếu trên sân khấu dân gian. Tôi băn khoăn với câu hỏi: “Đến thời tàu cá được trang bị máy móc và sứ mệnh của ghe bầu kết thúc thì các thuyền trưởng có cần những câu vè này?”. Ông Lương Văn Tiền, ở Quảng Nam cho tôi biết, năm 1999, ông cầm lái chiếc thuyền chở ngư dân đi đánh cá và bị dính bão. Hàng chục ngư dân khóc lóc vì sức đã đuối mà sóng biển thì mỗi ngày một dữ hơn. Khi chạy ngang qua gần khu vực đèo Hải Vân, ông định cho thuyền tạt vào một eo biển mà trông xa thấy êm sóng. Nhưng ngư dân trên thuyền chợt nhớ ra trong một bài vè có đoạn: “Chỗ này Bãi Chuối, Hang Dơi/ Xưa nay cửa bể là nơi gió lò”. Ông Tiền kể rằng, mọi người hét to khi 2 câu vè này có nhắc đến từ “gió lò”, có nghĩa là vô thì bỏ mạng vì gió. Ông Tiền vội cho thuyền đi chệch ra hướng đảo Lý Sơn cầm cự với bão gió, vì vậy, ngư dân trên tàu đều thoát nạn trở về.

Lê Văn Chương

Bình luận

ZALO