Đường dây nóng: 0912011882 - (024) 39364407Chủ nhật, 11/04/2021 10:57 GMT+7

19 năm cắm bản “trồng người”

Biên phòng - Những ngày cuối đông, chúng tôi đến điểm trường Sảng Pả, thuộc Trường Tiểu học Phố Cáo (huyện Đồng Văn, Hà Giang). Tại đây, chúng tôi có dịp trò chuyện với cô giáo cắm bản Nguyễn Thị Thêu - người có 19 năm "gieo chữ" trên vùng cực Bắc của Tổ quốc. Cô là một trong số 64 thầy, cô giáo cắm bản tiêu biểu, vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo tôn vinh trong chương trình "Chia sẻ cùng thầy cô 2015".

vxpk_8a-1
Cô giáo Nguyễn Thị Thêu hướng dẫn các em học sinh học bài. Ảnh: Bình Minh

Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Bình năm 1995, Nguyễn Thị Thêu tình nguyện lên Hà Giang dạy học. Cô tâm sự: "Hành trang của tôi đến với mảnh đất vùng cao Hà Giang là lòng đam mê nghề nghiệp. Với mong muốn đưa con chữ lên non cao, đã tiếp thêm quyết tâm để tôi lên đường". Nhưng, cũng như bao giáo viên trẻ từ miền xuôi khác, cô Nguyễn Thị Thêu vẫn chưa thể lường hết những khó khăn, thử thách mà mình phải đối mặt.

Nhắc lại thời gian đầu khi mới lên mảnh đất này, cô bồi hồi chia sẻ, thời gian đó, cô mới 25 tuổi, được phân công dạy học ở Trường Tiểu học Lũng Thầu. Ngày ngày, con đường đi dạy phải men theo khe núi. Lớp học mái lá dột nát, tứ phía trống hoang. Mùa đông gió bấc, sách vở ướt nhẹp. Sáng đi dạy, chiều một mình cô xuống bản cùng bà con, vận động các em không bỏ lớp: "Lớp học đầu tiên tôi dạy là lớp ghép 2+3 gồm 14 học sinh, các em đều là dân tộc Mông, do ít được tiếp xúc với bên ngoài nên các em còn nhút nhát. Cô trò thì ngôn ngữ bất đồng nên gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp và giảng dạy" - cô Thêu trải lòng.

 Không chỉ vượt qua những khó khăn về vật chất, cô Thêu còn phải vượt qua khó khăn về mặt tinh thần. "Lúc đầu, không biết ngôn ngữ khổ lắm, cả năm chỉ mong thấy người dưới xuôi lên để trò chuyện cho thoải mái. Lúc đó, tôi và một cô giáo nữa, nhiều đêm hai chị em ôm nhau khóc vì vừa nhớ nhà, vừa thấy cuộc sống vùng cao khổ quá. Nhưng tất cả đều tan biến khi nhìn thấy những ánh mắt trong veo của các em đang khát khao con chữ, chúng tôi lại thầm hứa khó khăn nào cũng cố gắng vượt qua để cống hiến cho ngành giáo dục vùng cao vốn còn nhiều khó khăn này" - cô Thêu tâm sự.

Năm 1998, cô Thêu gặp được "một nửa" của mình trong những ngày gian khó. Cô kết hôn với thầy Chức, cũng là một giáo viên cắm bản, điểm trường của hai người dạy cách xa cả nửa giờ đi bộ đường núi và hai người gặp nhau qua những lần dự giờ, sinh hoạt chuyên môn, đi vận động học sinh đến trường. "Lúc đầu là đồng nghiệp, là bạn thì sang thăm, trao đổi chuyên môn, sau đó tình cảm giữa chúng tôi nảy nở. Sau gần hai năm, chúng tôi quyết định tổ chức đám cưới" - cô Thêu chia sẻ về hạnh phúc của mình. Chính mảnh đất vùng cao đã nuôi dưỡng tình yêu của cặp vợ chồng giáo viên này và cũng chính nơi đây, họ đã chọn tổ chức ngày trọng đại của đời mình.

Đám cưới của hai người diễn ra cũng đơn sơ như chính cuộc sống của họ, chỉ có ít khách và hai người anh ruột cô thay mặt gia đình lên chung vui. Đường sá cách trở, nhiều bạn bè, đồng nghiệp không đến được chỉ gửi quà mừng. Phòng ở của hai vợ chồng là gian nhà lưu trú trình tường được các bạn đồng nghiệp nhường cho. Tài sản lúc đó chẳng có gì, ngoài chiếc giường đơn. Cưới xong cũng phải chờ dịp nghỉ hè mới được về thăm nhà.

Cuộc sống của hai vợ chồng cô đều trông chờ vào tiền lương ít ỏi nên gặp không ít khó khăn. Năm 2006, để hợp lý hóa gia đình, cô được chuyển về dạy ở Trường Tiểu học Phố Cáo. Ban Giám hiệu nhà trường đã phân công cho vợ chồng cô dạy học và lưu trú tại điểm Sảng Pả đến nay. Đây là một điểm trường giáp đường biên giữa Việt Nam và Trung Quốc, dân cư ở tập trung. Ý thức của người dân nơi đây chưa thật sự coi trọng con chữ, nên chưa tích cực động viên con em đi học, có lớp tổng số học sinh 15 em nhưng chỉ có duy nhất một em đến lớp. Bằng kinh nghiệm và sự nhiệt tình của cô đã thu hút được các em đến lớp.

Từ năm đó đến nay, điểm trường luôn đông đủ học sinh, không còn học sinh bỏ học, nhiều năm liền, các lớp do cô chủ nhiệm, các em đều đạt giải trong các cuộc thi, năm nào cũng có học sinh đạt giải nhất, nhì cấp trường, cấp huyện về cuộc thi chữ đẹp và các cuộc thi giao lưu cụm trong huyện. Đến nay, có những học sinh đã tốt nghiệp đại học, nhiều em trở thành cán bộ xã.

Cô Thêu cho biết thêm, vùng cao nào cũng khó khăn nên các thầy, cô giáo đều quen rồi, nhưng thấy thương và có lỗi nhất lại chính là con cái của mình. Con trai đầu lòng của cô sức khỏe yếu, chân bị teo cơ do bị suy dinh dưỡng bào thai, phải chạy chữa hơn 10 năm trời. Vợ chồng cô quyết định gửi con về quê nhờ ông bà dưới xuôi ở Ninh Bình nuôi giúp khi con vào lớp 1.

Rời điểm trường Sảng Pả, chúng tôi đều có cảm giác chung là khâm phục trước ý chí, nghị lực, sự hy sinh, lòng yêu nghề, yêu trẻ của những người gánh vác trên vai trọng trách nặng nề nhưng rất đỗi vinh quang - "trồng người" nơi địa đầu Tổ quốc.

Bình luận

ZALO