Thứ 2, 21/10/2019, 22:56 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

"Vua đẻ" ở ngã ba biên giới

02/06/2016 - 10:47

Biên phòng - Trong chuyến ngược ngàn về Mường Nhé, huyện ngã ba biên giới của tỉnh Điện Biên, tôi tình cờ "diện kiến" người đàn ông được cộng đồng người Mông nơi biên viễn "tấn phong" là "vua đẻ". Sau 40 năm chung sống ông và vợ đã sinh hạ được 19 đứa con. Đến thăm gia đình "giàu con" nhưng "nghèo của" ấy ở Huổi Chạ, xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé, khách không khỏi ái ngại trước đàn con đông đúc, trong đó người con lớn đã ngoài 40, đứa nhỏ nhất mới tròn 13 tuổi của vợ chồng "vua đẻ".

574f9d494936d46327001860
Ông Tủa và đứa con thứ 11. Ảnh: Nhật Phong

Đông con thì... non của

Từ trung tâm xã Nậm Vì, phải đi mất cả tiếng đồng hồ mới đến được "đại bản doanh" của "vua đẻ" Giàng Chờ Tủa. Anh Vừ A Sáng, cán bộ văn hóa xã Nậm Vì cứ ghì người trên chiếc xe máy cà tàng chốc chốc lại chồm lên như ngựa vì đường dốc lại mấp mô. Khi đến trước cửa nhà, chúng tôi bắt gặp một bà già ngồi lặng lẽ bên bậu cửa, đang tẽ hạt rau dền đỏ, miệng se sẽ hát. Bà là Sùng Thị Sá, 78 tuổi, mẹ của "vua đẻ" Giàng Chờ Tủa. Thấy khách lạ, bà Sá chỉ khẽ khàng ngẩng lên nhìn rồi lại cắm cúi vào công việc của mình.

Vào thời điểm này, "vua đẻ" đang lên nương, đứa con thứ 11 của ông xăng xái đi gọi bố. Trong lúc chờ đợi, chúng tôi ngồi trò chuyện cùng bà Sá. Cụ già gần đất xa trời ấy không hề vui khi nhắc đến kỷ lục đẻ nhiều của người con trai. Bà chỉ vào rổ rau, bảo cả nhà toàn ăn rau rừng thôi, hiếm khi có được miếng thịt. Bà cho biết, Giàng Chờ Tủa là con trai cả trong số 7 đứa con của bà. Thương Tủa nhất nhà, sau khi dựng vợ, gả chồng cho hết lượt cả 7 đứa con, bà mang quần áo sang ở với vợ chồng Tủa để dễ bề trông nom đàn cháu nội. Mấy năm nay, sức khỏe suy giảm, sợ làm phiền con cháu, bà chuyển ra sống riêng ở căn nhà lụp xụp phía đầu hồi, mọi sinh hoạt đều trông chờ vào tiền trợ cấp từ Nhà nước.

Một lát sau, người con trai của cụ cũng có mặt để tiếp khách. Vừa bước qua cái ngưỡng cửa cũ mèm, bong tróc, loang lổ cùng với mùi ẩm mốc bốc lên từ căn nhà khiến chúng tôi thật sự ái ngại về cuộc sống nghèo khó của đại gia đình "vua đẻ". Không buồn giận vì mất buổi lên nương do phải quay về tiếp khách "lãng xẹt" , ông Tủa tỏ ra ngượng ngùng, lúng búng than vãn mãi về căn nhà tồi tàn của mình, vì chưa lo được tiền để lợp lại mái nhà cho khỏi dột, để sau những cơn mưa, mấy đứa trẻ cả con lẫn cháu không còn phải chui vào áo tơi, hoặc rúc gầm giường để ngủ.

Điều than vãn của ông không nằm ngoài suy nghĩ của tôi. Bởi ông lấy vợ rồi sinh liền tù tì 19 đứa con, đứa lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất vừa tròn 13 tuổi. Ngót nghét 30 miệng ăn thì núi nào cũng lở, trong khi nguồn thu chỉ dựa vào nương rẫy. Hơn nữa, người đàn bà vắt kiệt sinh lực để đẻ thì cơ thể cũng quặt quẹo như cái cây chột không lớn nổi. Bọn trẻ con cũng vì thế mà ốm đau liên miên, hồn nhiên lớn lên như cỏ dại, rau rừng. Cái nghèo hắt lên từ căn nhà trống hoác, gió đuổi nhau chạy sầm sập trên nền đất. Gian bếp nguội tanh, mấy cái nồi xếp ngổn ngang trên ván gỗ, bụi phủ lớp lang. Nhìn qua cũng đủ biết lâu lắm rồi chúng không được đem ra sử dụng. Chỉ duy nhất có cái chảo gang đặt giữa nhà là còn dính vài hạt ngô vàng sậm. "Một hạt gạo gánh 7 hạt ngô", chắc cũng lâu rồi mấy đứa con của ông Tủa không được ngửi mùi cơm trắng.

Nhiều quá, không nhớ nổi tên con...

Trong lúc trò chuyện, chúng tôi để ý thấy ông Tủa hiếm khi gọi tên con. Khi cần sai đứa nào, ông gọi: Đứa thứ 9, đứa thứ 10... Hỏi chúng bao nhiêu tuổi, học lớp mấy thì ông lắc đầu không biết, vì "nhiều quá, không nhớ nổi tên chúng nó... " - ông Tủa trần tình.  Năm 20 tuổi, người đàn ông sinh năm 1953 ấy cùng vợ là Sùng Thị Pàng cứ mỗi năm cho ra đời một đứa trẻ, bất chấp sự tuyên truyền, vận động của chính quyền và bà con làng xóm.

Vậy là, sau gần 40 năm chung sống, vợ chồng ông đã có 19 đứa con. Ông Tủa bảo, lo đủ miếng cơm cho đám con đang tuổi ăn, tuổi lớn cũng đã quá khó khăn rồi, thời gian đâu mà ngồi nhẩm lại xem tên tuổi chúng. Vì cuộc sống khốn khó, thiếu ăn thiếu mặc nên trong số 19 đứa con, đã có 5 đứa ốm đau, sài đẹn rồi bỏ vợ chồng ông Tủa để "về với ông bà tổ tiên". 14 đứa con còn lại đã có vài đứa lập gia đình ra ở riêng.

Khi ông Tủa về đón khách thì các thành viên còn lại của gia đình đều vào rừng kiếm củi. Ngay cả bà vợ và hai đứa con gái cũng đã gùi rau với gạo mang liềm đi cắt lúa ở mấy chân ruộng xa, chắc phải vài ngày nữa mới về. Mấy mẹ con bà tự lo nấu nướng, ăn ngủ ngay trong cái lán tạm lợp cỏ tranh, mặc cho mưa rừng có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Lý do đẻ nhiều cũng được lý giải hết sức đơn giản vì ngày xưa chả có biện pháp gì, hơn nữa, người Mông lại có phong tục đẻ nhiều, họ nghĩ sinh đẻ là chuyện tự nhiên, không nên can thiệp. Cũng chính vì cái quan niệm cổ hủ từ ngàn đời ấy, nên vợ ông cứ sinh được ít lâu là cái bụng lại lùm lên vượt mặt. Điều đáng nói ở đây là, trong 19 lần bà Pàng vượt cạn, ông Tủa cũng chỉ đưa vợ đến trạm y tế có vài lần.   

 Đương nhiên, đối với đồng bào các dân tộc trên biên giới, việc tự đẻ rồi tự tay cắt rốn cho con, không cần đến bà đỡ những năm trước đây là khá phổ biến. Một bộ phận không nhỏ các bà mẹ người Mông nơi núi rừng Tây Bắc vẫn giữ thói quen thay vì đến trạm xá hay các trung tâm y tế, mỗi khi trở dạ, sản phụ chỉ cần ngồi lên trên cái mẹt đã trải sẵn rơm khô hoặc dăm tàu lá chuối rồi... rặn đẻ. Chính vì thế, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở vùng dân tộc miền núi cao gấp 4 lần so với vùng đồng bằng.

Nói như vậy để thấy được, những Páo, Dợ, Cấu, Cắn, Chù, Chừ ... - những đứa con của ông Tủa được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trên vùng đất này đã là một kỳ tích: Từ đói cơm, thiếu mặc đến chuyện không nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ các bậc sinh thành. Đến cái tên của các con, ông bố Giàng Chờ Tủa còn không thể nhớ hết. Con ông cũng chỉ có vài người biết mặt chữ, trong đó có đứa thứ 11 tên là Giàng Thị Dợ, SN 1994, học hết lớp 6 thì lấy chồng ở huyện Điện Biên Đông, rồi chẳng hiểu thế nào bà mẹ trẻ ấy lại bế con về ở nhà ngoại ngót cả năm nay. Trên Dợ còn có một anh trai tên Giàng A Cấu, học hết lớp 12 - người từng được coi là niềm tự hào của cộng đồng người Mông Huổi Chạ vì kiên trì leo đèo, lội suối suốt đằng đẵng 12 năm trời để có được mảnh bằng tốt nghiệp Phổ thông trung học. Tất nhiên, chúng tôi cũng không gặp được Cấu, bởi chàng trai ấy đã hạ sơn làm "trai phố ". 

Qua tìm hiểu, tôi được biết, hai vợ chồng Cấu đang thuê nhà trọ gần bến xe Mỹ Đình. Cô vợ làm nghề tiếp thị nước giải khát, chồng làm nghề phụ hồ, cuộc sống cũng không mấy dư dả. Trên suốt hành trình trở về, tôi cứ thấp thỏm khi nghĩ đến gia cảnh của ông Giàng Chờ Tủa: Hơn hai chục con người ngồi vây quanh góc bếp. Ở đó, chỉ có một chảo mèn mén và một rổ rau dền luộc chín. Bữa chính bắt đầu!

Nhật Phong