Thứ 2, 21/08/2017, 15:18 (GMT+7) Đường dây nóng : (04) 39364407(116) - 091.2011.882

Về Con Cuông thăm tấm bia ma nhai cổ nhất

10/08/2017 - 20:58

Biên phòng - Rất ít người còn biết đến tấm bia khiêm tốn tựa vào vách núi Thành Nam ở miền Tây Nghệ An ẩn chứa nhiều thông điệp lịch sử đến như vậy. Đó là tấm bia ma nhai do đích thân Thượng hoàng Trần Minh Tông sai khắc.

aukp_20a
Núi Thành Nam, huyện Con Cuông, nơi có bia ma nhai thời Trần. Ảnh: Trịnh Sinh

Một lần đi theo Quốc lộ số 7 lên cửa khẩu biên giới Nậm Cắn, chúng tôi dừng lại ở huyện Con Cuông. Nghe nói có một tấm bia đá ở cách thị trấn khoảng 500m, thuộc xã Chi Khê đã được xếp hạng di tích Quốc gia, cả đoàn công tác đã “vạch lối tìm đường” vào thắp hương.

Quả là phải vạch lối theo đúng nghĩa đen của từ này, vì cỏ ngập đến gần đầu gối trên đường vào di tích, mặc dù cũng gần ở ngay Quốc lộ số 7. Một chút ngậm ngùi cho cảnh tượng di tích, lại càng ngậm ngùi hơn khi biết tấm bia này kể về chiến công dẹp loạn vùng biên của một vị vua đời Trần. Hóa ra, tấm bia đang trên đà trở thành… phế tích (vì không có sự bảo quản, che chắn, dẫn tới xói mòn chữ nghĩa) lại là tấm bia tuyệt vời nhất, cổ nhất thời Trần còn lưu lại cho hậu thế.

Lần trong chính sử, khá nhiều thư tịch cổ đã nói về tấm bia, ví dụ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí…

Chuyện kể rằng, trong chiến dịch dẹp loạn vùng Tây Nghệ An năm 1335, “Thượng hoàng Trần Minh Tông hạ lệnh cho Nguyễn Trung Ngạn sung chức Phát vận xứ Thanh Hóa, tải lương đi trước, rồi đem đại quân kéo đi sau. Khi quân đến Kiềm Châu, thanh thế vang động, Ai Lao nghe tiếng, chạy trốn. Thượng hoàng sai Trung Ngạn đục núi ghi công rồi đem quân trở về” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Nay tấm bia “đục núi” đó vẫn còn, được chép nguyên văn vào sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn. Các nhà Hán học đã dịch như sau:

"Hoàng Việt (tức Nhà nước Đại Việt), triều nhà Trần, vua trị vì thứ 6, là Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng hoàng đế, được trời thương yêu cho thống trị đất đai rộng lớn, các nơi xa gần, đâu cũng thần phục; thế mà Ai Lao là một nước nhỏ, dám ngang ngạnh giáo hóa triều đình. Năm Ất Hợi (1335), tháng Quý Thu (tháng 9 âm lịch), Hoàng đế thân đem lục quân đi tuần thú đến biên thùy mặt Tây, thì thế tử Chiêm Thành và nước Chân Lạp, nước Tiêm, đạo thần tù trưởng Mán là Quỳ Cầm, Xa Lặc, những bộ lạc mới phụ thuộc thì tù đạo mán Bôi Bồn và mán Thanh Xa, đều tranh nhau đến triều yết, dâng nộp phẩm vật địa phương; chỉ có một nghịch tặc tên là Bổng cố giữ thói u mê, sợ bị tội lỗi, không đến triều yết ngay. Tháng Quý Đông (tháng 12 âm lịch), Hoàng đế đóng ngự doanh ở cánh đồng Cự Đồn thuộc Mật Châu, hạ lệnh cho các tướng cùng binh lính man di kéo vào nước ấy, tên nghịch tặc Bổng nghe tiếng chạy trốn, bèn hạ chiếu đem quân về".

Tháng 12 nhuận, mùa đông, năm Ất Hợi (1335), niên hiệu Khai Hựu thứ 7 (khắc bia).

Người soạn bia là Đại thần Nguyễn Trung Ngạn. Nét chữ khoáng đạt, to bằng bàn tay. Có lẽ trong điều kiện trận mạc xa kinh đô, nên nhà Trần không xẻ đá làm bia thành hình hộp vuông vức mà sai người mài đá trên vách núi, trong hang để khắc bia. Vì thế mà bia có tên gọi là bia ma nhai (nghĩa là mài đá vách núi cho phẳng để khắc chữ). Chính vào thời Lê, vua Lê Lợi cũng sai khắc bia ma nhai vào vách núi Đà Bắc (Hòa Bình) và bia ma nhai ở vùng thượng nguồn sông Đà, ở Lai Châu cũng trong dịp dẹp loạn vùng biên như thế.

Cũng cần phải kể về Thái Thượng hoàng Trần Minh Tông. Đây là vị vua toàn tài trong lịch sử. Ngoài chiến công dẹp loạn vùng biên thùy miền Tây Nghệ An, ông còn có công dẹp loạn vùng biên Tây Bắc, vùng sông Đà khi giặc Ngưu Hống nổi loạn. Trần Minh Tông rũ áo quyền lực để nhường ngôi cho con, nhưng vẫn ngày đêm lo việc nước, buông mành nhiếp chính, mà không chịu nghỉ ngơi. Vùng đất nào loạn ly là Thượng hoàng thân chinh ra trận. Có lẽ, sau 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông đã tạo cho triều Trần từ trên xuống dưới một thói quen và kinh nghiệm đánh trận. Giặc phương Bắc tạm thời không nhòm ngó, nhưng một số vùng biên chưa yên, mà vì thế, các vua Trần lại phải xông pha chiến trường.

Trần Minh Tông, sinh năm 1300. Ông được vua cha là Trần Anh Tông truyền ngôi từ khi mới 14 tuổi rồi lui về làm Thái Thượng hoàng. Ông làm vua 15 năm, rồi cũng nhường ngôi cho con là Trần Hiến Tông vào năm mới có 29 tuổi rồi trở thành Thái Thượng hoàng. Đến khi ông vua con mất, ông lại làm Thái Thượng hoàng cho ông vua cháu là Trần Dụ Tông vào năm 41 tuổi.

Lịch sử nhà Trần cũng khá độc đáo, thường các vua Trần lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi. Các vua cha nhường ngôi để lui về làm Thái Thượng hoàng nhưng vẫn quyết định mọi chuyện triều chính. Vậy là nước Đại Việt vẫn có 2 vua, mà vai trò của vua cha mới là quyết định. Có lẽ nhờ thế mà xã tắc thêm vững bền mà bên trong triều đình cũng yên ấm. Những ông vua con cũng thêm một thời gian trưởng thành dưới sự chỉ bảo của vua cha. Nhất là trong giai đoạn vừa qua thời trận mạc chống quân Nguyên Mông.

Trần Minh Tông được sử cũ hết lời ngợi khen là một ông vua - Thái Thượng hoàng sáng suốt, có công dẹp loạn vùng biên, ngoại giao khôn khéo để giữ sự ổn định với đế quốc Nguyên Mông phía Bắc và cứng rắn với Chiêm Thành phía Nam. Ông cũng là một ông vua biết trọng dụng nhân tài và thi cử. Những nhân vật kiệt xuất như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Sư Mạnh là do Trần Minh Tông chọn lựa và tin dùng. Thế mới biết vua sáng sẽ biết dùng người tài, nhờ thế mà, đất nước được chấn hưng vào kỷ hậu chiến.

fgrn_20b
Mái đá trên vách núi, nơi có khắc bia ma nhai. Ảnh: Trịnh Sinh

Ông còn là một nhà thơ có nhiều bài thơ hay. Tiếc rằng, ông đã sai đốt hầu hết các tập thơ của mình. Nay hậu thế chỉ còn lưu được 25 bài thơ, trong đó có những bài thơ tuyệt đỉnh, lấy cảm hứng từ cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông oai hùng như bài “Bạch Đằng Giang”, có đoạn:

“Giang thủy  đình hàm tà nhật ảnh,

Thác nghi chiến huyết vị tằng can”.

Tạm dịch:

“Mặt sông tỏa bóng chiều tà

Hòa màu máu giặc ngỡ là còn loang”.

Thái Thượng hoàng Trần Minh Tông còn rất thương cảm các tướng lĩnh của mình, khi ra trận chẳng may chủ quan mà bị mất mạng. Sử cũ ghi lại: Sau khi tấm bia ma nhai được khắc còn tươi nét chữ, vùng biên Tây Nghệ An lại bị xâm lấn. Thái Thượng hoàng đang bị đau mắt, nhưng vẫn khoác long bào ra trận. Các quan can gián xin lui lại, nhưng ông vẫn thân chinh đánh giặc. Cuộc chiến này, Đoàn Nhữ Hài bị rơi vào ổ phục kích của giặc và chết đuối. Thái Thượng hoàng khóc thương tiếc và không coi đó là lỗi của Nhữ Hài.

Tấm bia ma nhai còn ghi lại dấu tích của một trong những chiến công dẹp giặc của Trần Minh Tông. Tấm bia quý giá này chính là di sản điển hình của một trong những vị vua sáng nhất trong thời nhà Trần. Đến thăm Con Cuông và tấm bia này như được thấy đâu đây tiếng ngựa hý, voi gầm của những binh đoàn quân nhà Trần, sau đó còn có chiến tích của nghĩa quân Lê Lợi ở miền “Trà Lân, trúc chẻ, tro bay” cũng chính là ở vùng đất này.

PGS.TS Trịnh Sinh