Thứ 3, 17/09/2019, 00:04 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

26/06/2017 - 17:39

Biên phòng - Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, có vị trí trọng yếu, chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, ''Người Cha của các lực lượng vũ trang nhân dân" đã thấu hiểu sâu sắc về vị trí, vai trò của biên giới đất liền, bờ biển, hải đảo của Tổ quốc, xác định đây là địa bàn chiến lược quan trọng, nhạy cảm và phức tạp nên hết sức coi trọng và đặc biệt quan tâm, chăm lo đến xây dựng lực lượng "Biên phòng" và công tác biên phòng để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

3tx9_5b
Giữ gìn vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ của toàn dân, trong đó, lực lượng BĐBP là nòng cốt. Ảnh: CTV

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, do sớm nhận thức vùng biên giới là "phên giậu", bờ cõi, tiền tiêu của Tổ quốc, là nơi địa đầu, hiểm yếu, có quan hệ sống còn, phát triển, an nguy của đất nước, của dân tộc, nên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia luôn được ông cha ta coi trọng không một phút lơ là, khinh suất. Phương lược nổi bật là coi "sức dân như nước" và lấy đó làm quốc sách để "phòng bị biên sự" lâu dài. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã bố trí quân lính, đóng đồn, trại, tổ chức canh giữ trấn ải biên giới cẩn mật. Vua Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến "kế cửu an" cho xã tắc nơi biên giới và thường nhắc nhở con cháu "lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy". Về sau, vua Lê Thánh Tông đã căn dặn tướng sĩ: "Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được... Nếu người nào dám đem một thước núi, một tấc đất đai của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng”.

Kế thừa truyền thống giữ nước của ông cha ta, trên cơ sở tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu sâu sắc về vị trí, vai trò của biên giới đất liền, bờ biển, hải đảo của Tố quốc, xác định đây là địa bàn chiến lược quan trọng, nhạy cảm và phức tạp nên hết sức coi trọng và đặc biệt quan tâm, chăm lo đến xây dựng lực lượng "Biên phòng" và công tác biên phòng để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Những tư tưởng của Người là kim chỉ nam cho mọi hoạt động xây dựng, tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong mọi giai đoạn của sự nghiệp cách mạng. Tư tưởng ấy được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Biên giới quốc gia là thiêng liêng, gắn liền với giá trị độc lập tự do của dân tộc, đất nước, có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nên cần phải được quản lý, bảo vệ chặt chẽ.

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biên giới quốc gia (kể cả biên giới đất liền và biên giới biển) có nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn, là nơi địa đầu - cửa ngõ của Tổ quốc, địa bàn chiến lược cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Biên giới quốc gia là thiêng liêng, gắn liền với giá trị độc lập tự do của dân tộc, đất nước, “dù có phải đốt sạch dãy Trường Sơn, chúng ta cũng phải giành cho được”. Để có được độc lập, tự do, trước hết, chúng ta phải giành được chủ quyền lãnh thổ, với một đường biên giới rõ ràng.

Đối với miền núi biên giới, Người chỉ rõ “Miền núi chiếm hai phần ba tổng số diện tích nước ta... Miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp. Những điểm đó nói rõ rằng miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của nước ta”. Biển, đảo cũng được Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt bởi vị trí to lớn của nó. Bác đã từng nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển của ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Xuất phát từ vị trí ý nghĩa chiến lược của biên giới quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu: "Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước”. Do vậy, phải biết triệt để lợi dụng ưu thế của biên giới, đồng thời phải tiến hành song song với việc tổ chức bảo vệ biên giới chặt chẽ, hay nói khác đi là “canh cửa cho Tổ quốc”.

Thứ hai: Bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của mọi cấp, mọi ngành, song cần phải có lực lượng nòng cốt, chuyên trách.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi giữ nước là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải dốc hết sức lực cho việc giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bác đã từng dạy: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, canh giữ biên cương của Tổ quốc theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, nhưng cũng rất khó khăn, gian khổ, phức tạp của công tác biên phòng. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhưng trong công tác này cần phải có một lực lượng vũ trang làm nòng cốt, chuyên trách.

Xuất phát từ yêu cầu tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, ngày 19 tháng 11 năm 1958, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 58/NQ-TW và ngày 3 tháng 3 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 100/TTG thống nhất các đơn vị bộ đội đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị công an biên phòng, cảnh sát vũ trang tổ chức thành một lực lượng thống nhất chuyên trách đảm nhiệm công tác biên phòng và bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở nội địa, lấy tên là Công an nhân dân vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Việt Nam.

Để xây dựng, củng cố BĐBP vững mạnh, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân lực lượng Biên phòng, Bác luôn cho rằng Đảng, Nhà nước cần quan tâm giúp đỡ về nhiều mặt, bởi lẽ, đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ BĐBP đều công tác ở những nơi khó khăn, gian khổ, xa trung tâm văn hóa, chính trị... Đó là những lý do để “Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác rất quan tâm đến các chú... bản thân Bác thường chú ý đến các chú”.

Sự quan tâm thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với BĐBP là rất sâu sắc và toàn diện. Sự quan tâm ấy trước hết là hệ thống quan điểm cách mạng và khoa học của Người về công tác biên phòng và xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Mặt khác, Bác còn cùng Trung ương Đảng, Chính phủ đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp với điều kiện sống và công tác của BĐBP. Những chỉ thị, nghị quyết... về công tác biên phòng và xây dựng BĐBP được ban hành lúc sinh thời của Hồ Chí Minh luôn được cán bộ, chiến sĩ BĐBP đón nhận, nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Những lời động viên khen ngợi, những phần thưởng mà Hồ Chí Minh dành cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP lập được thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác và xây dựng đơn vị là hiện thân sự quan tâm vô bờ của Người. Mỗi lần đến thăm và làm việc với BĐBP, Bác đều ân cần chỉ bảo những vấn đề có tính chiến lược trong xây dựng và bảo vệ biên giới. Đặc biệt, dù bận trăm công ngàn việc, nhưng mỗi lần đến thăm lực lượng, sau lời huấn thị Bác đều có thơ tặng cán bộ, chiến sĩ. Những lời dạy của Bác rất sâu sắc và toàn diện, đòi hỏi các thế hệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP phải thấm nhuần và thường xuyên học tập, làm theo. Những lời dạy ấy có thể khái quát trong 6 nội dung là: Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; Dựa vào dân, tận tụy với dân; Khắc phục khó khăn gian khổ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ; Cảnh giác, mưu trí, dũng cảm; Đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế; Liêm, chính, kiệm, cần.

Quan tâm đến sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Bác còn thường xuyên căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải kiên quyết tấn công tội phạm, nhưng cũng cần phải đảm bảo yếu tố chính trị, nhất là các vụ án vi phạm chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia phải hết sức thận trọng, không nên xử “công khai thành một đợt lớn”, mà “lâu lâu ta lại xử một vụ”, không nên làm ầm lên, “không cần đăng ồn ào trên báo chí”. Khi tiến hành “phải xét duyệt các vấn đề đưa ra”, tránh sơ hở vì như vậy “vừa lộ bí mật, vừa có hại về chính trị”. Muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, phải xây dựng BĐBP vững mạnh mọi mặt; Đảng, Nhà nước phải thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng BĐBP làm cho BĐBP không chỉ khỏe mạnh, giỏi võ thuật, bơi lội giỏi, chèo thuyền giỏi, mà còn “phải biết bắn súng giỏi, phải có kỹ thuật”; phải thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với BĐBP.

Thứ ba: Phát huy vai trò quần chúng nhân dân, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia bằng “thế trận lòng dân”.

Kế thừa truyền thống của cha ông “nước lấy dân làm gốc”, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”; thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân đối với cách mạng Việt Nam. Người nói: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào"; "Nước lấy dân làm gốc", "gốc có vững thì cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân".

Để tổ chức, lãnh đạo được quần chúng, phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, đòi hỏi Đảng phải không ngừng tăng cường mối liên hệ với quần chúng, tích cực tuyên truyền vận động, giác ngộ quần chúng. Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Do đó, "lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công". Người còn nói: "Làm việc gì cũng phải có quần chúng, không có quần chúng thì không thể làm được... Việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt".

Trong ngày thành lập lực lượng (3/3/1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị "Công an và Bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và bên ngoài... là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành tốt được... Khi tổ chức được nhân dân thì việc gì cũng làm được". Do đặc điểm sống, hoạt động, công tác thường xuyên gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc thiểu số, do đó để hoàn thành nhiệm vụ, Người nhiều lần chỉ rõ BĐBP phải dựa vào dân; công tác dân vận của BĐBP phải chú ý tới lực lượng quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số với những đặc thù riêng. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân vừa là mục đích, vừa là lực lượng của cách mạng. Do đó: "Bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải dựa vào lực lượng của nhân dân... việc giữ gìn trật tự an ninh càng phải dựa vào sáng kiến và lực lượng của nhân dân”.

Đối với BĐBP, ngay ngày đầu thành lập lực lượng, Bác đã đến dự và huấn thị: “Một vạn công an thì chỉ có hai vạn tai, hai vạn mắt, hai vạn tay chân, nhưng nhân dân có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân. Cho nên chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động”. Dựa vào nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân tạo thành “thiên la địa võng” làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của bọn tội phạm và các thế lực thù địch, phản động. Muốn vậy, BĐBP cần phải chú ý giúp cho cán bộ và nhân dân địa phương “cải cách dân chủ ở miền núi”; phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc; phải thực sự coi đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt.

Thấm nhuần những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quần chúng và công tác vận động quần chúng, Đảng và Nhà nước ta luôn kế thừa, phát triển và cụ thể hóa những quan điểm, tư tưởng đó trong bảo vệ Tổ quốc cũng như quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Điều đó thể hiện rõ nét và nhất quán cả về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Đồng thời, từ tổng kết sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ, Đảng ta đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Ngày nay, đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân có bước phát triển mới và yêu cầu mới, nhưng vai trò của quần chúng nhân dân vẫn là nền tảng, là cội nguồn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Đó là những tư tưởng, quan điểm hết sức quý báu để BĐBP vận dụng trong vận động, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.        

gvzk_5a
Đồn BP Mường Mươn, BĐBP Điện Biên giúp dân xây dựng nhà mới, định canh, định cư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững “phên dậu” nơi biên giới. Ảnh: Đức Hoàng

Thứ tư: Xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng, là giải pháp hữu hiệu góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế. Vì vậy, thắng lợi của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia không thể tách rời việc xây dựng một đường biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.

Hồ Chí Minh là người hiểu rõ hơn ai hết vai trò quan trọng của việc xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Ngay từ năm 1919, Hồ Chí Minh đã đề cập vấn đề các nước láng giềng của Việt Nam. Người chỉ rõ, sẽ là phi lý nếu Việt Nam lại có thể tồn tại biệt lập với các nước láng giềng. Khi nói về quan hệ với các nước láng giềng nói chung, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị nói riêng, Hồ Chí Minh thường sử dụng các cụm từ “đặc biệt”, “lâu đời”, “khăng khít”, “như anh, em ruột thịt”, “như răng với môi”... Hồ Chí Minh khẳng định chính sách đối ngoại của Việt Nam là làm bạn với mọi nước dân chủ, “nhất là các nước láng giềng”. Với quan điểm “giúp bạn là tự giúp mình”, thì việc xây dựng cho được biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không những làm triệt tiêu cơ sở, điều kiện nảy sinh các vi phạm về chủ quyền biên giới của nhau, mà còn tạo cơ sở, điều kiện xây dựng “phên giậu” vững chắc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới “từ xa”.

Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người Cha của các lực lượng vũ trang nhân dân đã sớm thấy được giá trị to lớn của vấn đề “tự do, độc lập” của dân tộc. Nghiên cứu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh cách mạng, về giải phóng dân tộc, về bảo vệ Tổ quốc..., thấy toát lên tư tưởng sâu sắc của Người về “Bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia”, những quan điểm, tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế; kinh tế thế giới và khu vực sẽ được phục hồi và phát triển... Song, nó luôn tiềm ẩn những nhân tố bất ổn khó lường, chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có vấn đề liên quan đến lãnh thổ, tài nguyên trên biển, trên bộ. Đối với nước ta, từ thành tựu của hơn 30 năm đổi mới đem lại, chính trị ổn định, kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng, quốc phòng, an ninh được củng cố, vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, nước ta vẫn phải đối mặt với nhũng khó khăn thử thách không nhỏ từ âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và những tác động, ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường...

Tình hình trên tác động trực tiếp đến các địa bàn biên giới, đặt ra cho công tác biên phòng và xây dựng BĐBP những yêu cầu nhiệm vụ mới nặng nề hơn. Để tổ chức quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới, hơn lúc nào hết, BĐBP cần quán triệt và thực hiện tốt những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta “về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia”. Trong đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP xác định cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội về nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tập trung tuyên truyền sâu rộng biên giới quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Trong đó đặc biệt là các quan điểm của Đảng, quy định của Nhà nước về biên giới quốc gia... để tạo sự thống nhất trong toàn Đảng, sự đồng thuận của toàn xã hội, nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng và toàn xã hội đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Hai là, chủ động, tích cực nghiên cứu tham mưu cho Đảng, Nhà nước tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Chủ động, tích cực nghiên cứu tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch với các chủ trương, giải pháp hữu hiệu có tính "chiến lược" liên quan đến công tác xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới, với những chính sách ưu đãi, tập trung nguồn lực cho các địa bàn trọng điểm ở khu vực biên giới đất liền và các vùng biển đảo.

Nâng cao trách nhiệm của các cấp, các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương, nhất là cấp ủy, chính quyền các tỉnh biên giới đối với sự nghiệp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, xây dựng đường biên giới ổn định, hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương có nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 01/CT-CP ngày 9-1-2015 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức "Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới".

Ba là, tích cực, chủ động tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện, thực sự trở thành "phên giậu" vững chắc bảo vệ biên giới.

Tham mưu xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, làm hạt nhân lãnh đạo ở địa phương. Trong đó chú trọng lựa chọn, bồi dưỡng cán bộ có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ năng lực, có uy tín với quần chúng, đưa họ vào giữ các vị trí chủ chốt; chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng công an cơ sở trong sạch vững mạnh; tăng cường phối hợp chặt chẽ với các lực lượng quân sự, công an xây dựng, củng cố thế trận biên phòng toàn dân trên cơ sở thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ở các xã, phường, biên giới, hải đảo.

Các đơn vị BĐBP tích cực, chủ động tham gia có trách nhiệm vào các chương trình, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở khu vực biên giới; coi trọng thực hiện có hiệu quả công tác định canh, định cư, bố trí sắp xếp lại dân cư, đưa dân ra biên giới, không để địa bàn không có dân cư và không để các xã, bản biên giới trắng đảng viên...

Bốn là, tập trung đổi mới đồng bộ công tác biên phòng, chủ động nắm chắc tình hình từ xa làm cơ sở xác định các chủ trương, biện pháp tổ chức chỉ huy bảo vệ biên giới.

Chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo tình hình biên giới, vùng biển; thấy rõ những thuận lợi, thách thức đặt ra; từ đó, đổi mới, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả các nội dung, phương thức trên từng mặt công tác biên phòng, bảo đảm phù hợp với từng địa bàn, tuyến biên giới, vùng biển đươc giao. Đổi mới phương thức tham gia xây dựng biên giới vững mạnh toàn diện, có chiều sâu, nhất là trong nắm tình hình địa bàn; đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ đường biên, cột mốc; tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh xã, phường biên giới, hải đảo.

Năm là, tăng cường quan hệ đối ngoại biên phòng với các lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng, chủ động, tích cực tham mưu cho chính quyền địa phương làm tốt công tác đối ngoại nhân dân, cùng nhau xây dựng, bảo vệ đường biên giới chung ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác ngày càng phát triển.

Tập trung đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp đối ngoại biên phòng, đưa công tác này phát triển cả về bề rộng và chiều sâu theo hướng thiết thực, hiệu quả; thưòng xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại biên phòng vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; tiếp tục tăng cường quan hệ mật thiết xây dựng, củng cố, nâng cao nhận thức, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa BĐBP Việt Nam với lực lượng bảo vệ biên giới của các nước láng giềng.

Thực hiện tốt các hiệp ước, hiệp định và quy chế quản lý biên giới, cửa khẩu, góp phần làm giảm bất đồng, tăng điểm đồng thuận trong giải quyết các tồn tại về biên giới, lãnh thổ với các nước láng giềng; thường xuyên tổ chức gặp gỡ, hội đàm, phối hợp tuần tra chung và đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa các đồn, trạm Biên phòng, kết nghĩa nhân dân hai bên biên giới, với nhiều hình thức, phương pháp đối ngoại linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và tập quán dân cư của từng tuyến biên giới, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định, hội nhập và phát triển.

Sáu là, tiếp tục xây dựng BĐBP vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của đất nước.

Tập trung xây dựng BĐBP vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; nâng cao năng lực, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức cơ sở Đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong BĐBP; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp cả về "tâm" và "tầm"; chủ động rà soát, củng cố, hoàn chỉnh tổ chức, biên chế BĐBP theo hướng tinh gọn, quân số hợp lý, có chất lượng cao, giỏi về nghiệp vụ, quân sự, đối ngoại, nhất là đối với các đơn vị làm nhiệm vụ chiến đấu, các đồn, trạm Biên phòng, bảo đảm xây dựng BĐBP vững mạnh về mọi mặt, thực sự là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Trung tướng, PGS.TS Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh BĐBP