Thứ 5, 29/06/2017, 05:42 (GMT+7) Đường dây nóng : (04) 39364407(116) - 091.2011.882

Trồng rừng theo chuẩn quốc tế

18/04/2017 - 5:28

Biên phòng - Mô hình trồng và phát triển rừng bền vững là khi sản phẩm gỗ được xuất khẩu ra nước ngoài cần phải đạt tiêu chuẩn: Nguồn đất trồng rừng phải hợp pháp, khai thác đúng qui trình, chế biến đạt chuẩn về môi trường, không sử dụng lao động vị thành niên, mua bán phải có hợp đồng rõ ràng... Tất cả mọi công đoạn phải được lập sổ nhật ký, hồ sơ đầy đủ. Nếu sản phẩm đạt "tiêu chuẩn toàn cầu" thì tiêu thụ tại bất kỳ thị trường nào cũng thuận lợi. Còn với kiểu "làm tắt" như bán "lúa non" và xuất khẩu thô thì thu nhập của người trồng rừng chẳng được cải thiện là bao.

ria5_10a
Kiến trúc sư Nguyễn Chanh Phương, Giám đốc Công ty TNHH Danh Mộc TP Hồ Chí Minh đã ứng dụng kỹ thuật số vào chế biến gỗ. Ảnh: Hải Luận

Hằng ngày, tại các cảng biển miền Trung có rất nhiều tàu chở đầy gỗ dăm ra nước ngoài bán dưới dạng thô. Sau 4 - 5 năm chăm sóc, những cánh rừng keo, bạch đàn người trồng rừng bán từng đồi cây với giá từ 20 - 50 triệu đồng/ha, rồi sau đó trồng lại. Trừ tiền giống, tiền công trồng, chăm sóc, tiền thuốc trừ cỏ..., người trồng rừng chỉ thu được từ 3 - 6 triệu đồng/ha/năm. Với số tiền này, chỉ bằng giá tiền công của ông thợ hồ trong một tháng. "Nông dân trồng rừng đa phần làm ăn không có kế hoạch, không có đường hướng đi cụ thể. Chỉ khi doanh nghiệp chế biến gỗ "cùng đi" với họ thì may ra người trồng rừng mới có thu nhập cao" - Ông Nguyễn Chiến Thắng, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Sansia Pacific, có trụ sở tại tỉnh Đông Nai, thẳng thẳn đặt vấn đề.

Mua giá cao theo chứng chỉ quốc tế

Câu chuyện ông Thắng lặn lội hơn 1.500 cây số, tự tìm đến nông dân miền Trung hợp tác làm ăn cũng lắm gian nan: "Tôi nhớ hôm đầu tiên tiếp xúc với nông dân trồng rừng ở một xã miền núi, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Hôm đó, trước khoảng 20 chủ rừng, tôi bắt đầu trình bày kế hoạch thu mua cây keo trồng đủ 10 năm theo dạng bao tiêu sản phẩm. Vừa mới dứt lời, một người đàn ông đại diện những hộ trồng rừng đứng lên tuyên bố: "Dân chúng tôi không cần hợp tác, đến thời điểm thu hoạch, ai mua giá cao thì bán cho người đó".

Nghe người đàn ông nói vậy, mọi người đều tỏ ra đồng tình". Ông Thắng vẫn giữ bình tĩnh và đứng lên giải thích: "Tôi đã làm trong ngành gỗ từ năm 1976 đến nay. Bà con nghĩ như thế là bán được giá cao, những thực chất lại không có lãi. Mình phải nghĩ đến cách làm ăn có lãi suất cao. Kiểu trồng rừng như bà con đang làm là chưa đúng cách, khai thác cứ vác từng cây... thì rất "nhỏ lẻ"...". Nói đến đây, họ mới giật mình và chăm chú nghe tôi giải thích về qui trình trồng, qui trình khai thác tỉa, qui trình thu hoạch, cách hợp đồng mua bán... Rồi sau đó, một đại diện của các chủ rừng đứng lên bắt tay tôi và nói: "Chúng tôi sẽ hợp tác làm ăn với ông".

Theo ông Thắng, từ thời điểm đó trở đi, các chủ rừng ở xã miền núi này đã đi tiên phong cùng doanh nghiệp theo quy trình trồng keo, bạch đàn một cách khoa học như: Mật độ cây trồng từ 3.000 - 4.000 cây/ha, 4 năm sau tỉa bán non, chọn để lại 1.000 cây nuôi đến 8 - 10 năm sau, khi cây có đường kính 17 - 25cm bắt đầu thu hoạch bán theo cây gỗ. "Công ty ký hợp đồng mua sản phẩm với nông dân theo giá sàn đưa ra trước cho bà con yên tâm.

Nhưng tại thời điểm bán cây, công ty vẫn mua giá cao theo thị trường. Rồi công ty còn cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp để trang trải cuộc sống. Ở miền Trung thường xuyên bị lụt bão, trong hợp đồng cũng ghi rõ, cây đổ do bão, công ty vẫn mua theo giá cây bình thường" - Ông Thắng cho biết thêm, rồi giải thích: Làm theo kiểu này, người trồng rừng có lãi rất cao. Nếu làm theo cách cũ, trồng cây 4 năm đã chặt, rồi lại trồng tiếp, mọi chi phí sẽ tăng gấp 2 - 3 lần. Còn để loại cây keo đến năm thứ 4 trở đi thì không tốn chi phí công chăm sóc.

Hiện nay, công ty của ông Nguyễn Chiến Thắng đã hợp tác làm ăn với hơn 500 hộ nông dân trồng rừng tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế với tổng diện tích rừng gần 3.000ha. Công ty Sansia Pacific đã bỏ chi phí làm thủ tục để Tổ chức quốc tế (FSC) cấp giấy chứng nhận rừng trồng của nông dân đạt "Tiêu chuẩn toàn cầu". Ông Thắng đưa ra chính sách, vùng cây gỗ nào có giấy chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế sẽ được công ty mua giá cao hơn 15 - 20% so với vùng cây không được cấp giấy chứng nhận. "Kể cả ông Chủ tịch UBND tỉnh cũng mừng, chứ đừng nói đến nông dân. Có được tờ chứng nhận quốc tế là đồng nghĩa số gỗ ở đây có "lý lịch" rõ ràng, sẽ xuất khẩu đi khắp thế giới. Muốn "chơi" với mấy ông nhà giàu và lấy được nhiều tiền của họ, mình phải làm theo "tiêu chuẩn toàn cầu". Hàng rào kiểm tra của các nước ngày càng khắt khe, nếu mình làm chậm, sẽ thua, mất thị trường".

Hiện nay, Công ty Sansia Pacific đã xây dựng thành chuỗi kinh hoanh: Hợp tác với nông dân tạo thành vùng nguyên liệu lớn, đặt nhà máy sơ chế ngay tại vùng nguyên liệu Thừa Thiên Huế, nhà máy chế biến sâu tại Đồng Nai và trực tiếp xuất khẩu vào thị trường châu Âu, Canada, Mỹ..., doanh thu mỗi năm 30 triệu USD. Theo ông Thắng, những năm tới, Công ty Sansia Pacific tiếp tục mở rộng mô hình hợp tác với nông dân trồng rừng ở các tỉnh khác, để tăng diện tích lên hàng chục ngàn héc ta.

saj4_10b
Một sản phẩm gỗ xuất khẩu được chế biến bằng công nghệ hiện đại. Ảnh: Hải Luận

Bài toán phát triển trồng rừng bền vững

Từ những rừng trồng ở vùng núi xa xôi, nông dân làm ra một cây gỗ, phải trải qua biết bao công đoạn mới sản xuất ra một tấm ván hoặc thành những bột nguyên liệu sản xuất giấy. Nếu mỗi công đoạn làm không tốt, chi phí cao sẽ đội giá thành lên, rồi quay lại "đè" giá đầu vào nguyên liệu. Để giải quyết "bài toán" này, nhiều doanh nghiệp đã đi tiên phong ứng dụng công nghệ hiện đại và kỹ thuật số vào các công đoạn chế biến gỗ. Kiến trúc sư Nguyễn Chanh Phương, Giám đốc Công ty TNHH Danh Mộc TP Hồ Chí Minh phải bỏ tiền sang Italia, Mỹ... học cách sản xuất gỗ hiện đại, đồng thời nghiên cứu thị trường và mở rộng kinh doanh ra thị trường quốc tế. Ông Phương đã đầu tư nhiều tỉ đồng mua máy móc chuyên dụng kỹ thuật số của Đức để phát triển chế biến gỗ.

"Mọi công đoạn, từ giới thiệu với khách hàng, chốt giá bán đến khâu thiết kế và truyền dữ liệu về nhà máy sản xuất đều được mã hóa. Làm kiểu này, sẽ đạt độ chính xác cao, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận lên" - Ông Phương nói.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2,5 triệu héc ta rừng trồng kinh tế, đa phần là rừng cây keo. Năm 2016, các doanh nghiệp chế biến gỗ phải nhập khẩu nguyên liệu từ 24 nước châu Phi, Mỹ và Indonesia... Tổng giá trị nhập khẩu trên 2 tỉ USD. Vấn đề chủ động nguồn nguyên liệu gỗ về lâu dài là bài toán khá nan giải. Về chuyện này, ông Nguyễn Chanh Phương đưa ra giải pháp: "Hiện nay, một lượng lớn rừng do các lâm trường quản lý. Đây là dạng "của chung không ai khóc" hoạt động không có hiệu quả. Chính phủ nên giao rừng cho các doanh nghiệp có năng lực hoặc đấu thầu rộng rãi để họ tự chủ và chủ động trong việc vạch kế hoạch kinh doanh lâu dài. Nhà nước quản lý tài nguyên phải minh bạch, tiến đến số hóa tài nguyên quốc gia để toàn dân biết. Vùng nào rừng trồng phòng hộ thì tuyệt đối không đụng vào, vùng nào rừng trồng kinh doanh để doanh nghiệp cùng nông dân hợp tác phát triển".

Cũng theo ông Phương, hiện nay, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh do ông làm Tổng thư ký đang chuẩn bị đầu tư cho các nhà khoa học hoặc giảng viên đại học đến các doanh nghiệp, vùng rừng trồng để nghiên cứu, đưa ra các dữ liệu. Qua đó, đề xuất cứ bao nhiêu diện tích rừng trồng sẽ xây dựng một nhà máy chế biến gỗ. Hội cũng khuyến khích các bạn sinh viên ngành lâm nghiệp vào các doanh nghiệp nghiên cứu và thực tập, để khi ra trường có kiến thức thực tiễn trồng rừng và kinh doanh chế biến gỗ trên thị trường quốc tế. Đây cũng là cơ sở tạo nguồn lực lao động có trình độ cao trong ngành chế biến gỗ.

Hải Luận