Thứ 7, 21/10/2017, 00:57 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Trần Tử Bình - vị tướng bản lĩnh và khiêm nhường

29/08/2016 - 16:44

Biên phòng - Từ một cậu thiếu niên phải sống nương nhờ trong nhà thờ, chủng viện, ông đã được giác ngộ cách mạng để rồi trở thành người tiên phong trong các phong trào đấu tranh của công nhân ở Phú Riềng, rồi sau đó lại tiếp tục lãnh đạo quần chúng chiếm Phủ Khâm sai và các cơ quan chính quyền tay sai trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, tại Thủ đô Hà Nội. Ông là Thiếu tướng Trần Tử Bình, một trong số 11 người được phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam ngày 20-1-1948.

Từ "Phú Riềng đỏ"…

vbkm_9a
Chân dung Thiếu tướng Trần Tử Bình trong cuốn sách "Từ Phú Riềng đỏ đến mùa thu Hà Nội".

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu, sinh ngày 5-5-1907, trong một gia đình nông dân theo đạo Thiên chúa nghèo tại thôn Ðồng Chuối, xã Tiêu Ðộng, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ngay từ nhỏ, ông đã phải sống trong cảnh nghèo khó. Khi chiến tranh thế giới lần thứ I bùng nổ, cha bị bắt đi lính cho Pháp, ông phải sống nương nhờ ở nhà thờ. Do học hành sáng dạ, sớm biết đọc, biết viết nên năm 1925, ông được giới thiệu vào học tại Chủng viện Hoàng Nguyên (giáo phận Hà Ðông).

"Cuối năm 1925, cả nước có phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu, rồi đến tháng 4-1926 có phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh. Vì được tiếp xúc với sách báo tiến bộ, cha tôi được giác ngộ tinh thần yêu nước và là người đứng đầu nhóm chúng sinh của Chủng viện ủng hộ 2 cụ Phan. Việc làm này trái ý các cha nên ông bị đuổi học" - anh Trần Kiến Quốc, con trai Thiếu tướng Trần Tử Bình, nhớ lại.

Sau khi bị đuổi học, nhờ biết chữ và có kiến thức về Kinh thánh, nên Phạm Văn Phu đã đi giảng đạo để kiếm sống. Trong những tháng ngày ấy, hương sư Vĩnh Trị - một nhà giáo yêu nước đã giới thiệu ông với nhà cách mạng Tống Văn Trân. Được giác ngộ về đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, năm 1927, từ khu Hạ Lý (Hải Phòng), Phạm Văn Phu lên tàu vào Nam, tham gia "vô sản hóa" và trở thành công nhân đồn điền cao su Phú Riềng của Công ty cao su Michelin.

Ở đồn điền Phú Riềng, đội ngũ công nhân phần lớn là những lớp phu được tuyển mộ từ miền Trung và miền Bắc. Từ cuối năm 1927 đến đầu năm 1928, họ đã có những cuộc đấu tranh, tuy không mang lại kết quả nhưng gây chấn động dư luận. Thực hiện chủ trương "vô sản hóa" của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, đồn điền Phú Riềng được chọn là một trong ba trọng điểm xây dựng cơ sở ở Nam Kỳ (cùng Xưởng đóng tàu Ba Son ở Sài Gòn và Vĩnh Kim ở Mỹ Tho).

Trong các cuộc đấu tranh với giới chủ gây xôn xao dư luận báo chí Nam Kỳ thời đó như: Chống đánh đập, cúp lương, bảo đảm các quyền lợi theo giao kèo…, Phạm Văn Phu luôn là người tham gia nhiệt tình, hăng hái. Thời điểm đó, hầu hết anh em phu đều mù chữ nên những bản hợp đồng in sẵn - như những chiếc thòng lọng, do bọn chủ đưa ra để họ điểm chỉ và họ đã vô tình bán đứt tự do, thậm chí gán cả tính mạng của mình cho chủ đồn điền cao su.

Anh Phu đã phát động cuộc đấu tranh với nhà thầu, buộc chúng phải thực hiện đúng hợp đồng, trả đủ tiền tạm ứng và chấm dứt bớt xén khẩu phần ăn của anh em phu. Sau cuộc đấu tranh đó, Phạm Văn Phu nhận được sự tin cậy tuyệt đối của anh em công nhân, trở thành trung tâm đoàn kết trong cuộc đấu tranh.

Đầu năm 1928, đồng chí Ngô Gia Tự (cán bộ xây dựng cơ sở của Đông Dương Cộng sản Đảng ở Nam Kỳ lúc bấy giờ) cử đồng chí Nguyễn Xuân Cừ lên Phú Riềng gặp Phạm Văn Phu để xây dựng cơ sở cách mạng. Tháng 5-1928, Chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội tại đồn điền Phú Riềng chính thức được thành lập. Phạm Văn Phu vinh dự đứng trong tổ chức cách mạng này.

Đến ngày 28-10-1929, theo chỉ đạo của đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Xuân Cừ tuyên bố thành lập Chi bộ Ðông Dương Cộng sản Ðảng tại Phú Riềng. Đến cuối năm 1929, Phạm Văn Phu được tổ chức phân công thay đồng chí Nguyễn Xuân Cừ làm Bí thư Chi bộ. Tuy số lượng đảng viên chỉ có 6 người, nhưng lực lượng quần chúng tích cực ở Phú Riềng khá đông, nhất là thành viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Chính từ những hạt nhân ban đầu ấy, ngày 3-2-1930, Chi bộ Phú Riềng, dưới sự lãnh đạo của Phạm Văn Phu đã nổi dậy đấu tranh đòi quyền sống của hơn 5.000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng, làm nên một "Phú Riềng đỏ" oai hùng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam. Phong trào này đã gây tiếng vang lớn trong lịch sử dân tộc và cũng là dấu mốc quan trọng mở đầu cho các phong trào công nhân khác của Việt Nam chống lại thực dân Pháp, như cuộc đình công khổng lồ tại Nhà máy sợi Nam Định và Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

…Đến cuộc Tổng khởi nghĩa mùa thu tháng Tám

Sau sự kiện "Phú Riềng đỏ", Phạm Văn Phu bị thực dân Pháp bắt và kết án hai lần. Lần thứ nhất, ông bị đày ra Côn Ðảo từ 1931 - 1936. Tại đây, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động của chi bộ Ðảng trong nhà tù, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng.

Lần thứ hai, Phạm Văn Phu bị mật thám Pháp bắt vào ngày 24-12-1943 trên đường sang Thái Bình khi đang là Xứ ủy viên Bắc Kỳ, Bí thư Liên khu C (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Ðịnh, Thái Bình). Kẻ thù dùng mọi cực hình tra tấn, song ông đã giữ vững khí tiết, bảo vệ bí mật của Ðảng, không chịu khuất phục. Tòa án thực dân kết án ông 20 năm tù, đưa về giam ở Hỏa Lò (Hà Nội).

Tại đây, Phạm Văn Phu (lúc này đã đổi tên thành Trần Tử Bình) cùng với các đồng chí Trần Đăng Ninh, Lê Tất Đắc tiếp tục tham gia tổ chức các lớp huấn luyện lý luận, bồi dưỡng quân sự, đường lối của Việt Minh cho tập thể tù chính trị. Lợi dụng thời cơ Nhật đảo chính Pháp, tối 9-3-1945, ông đã tổ chức thành công cuộc vượt ngục của gần 100 tù chính trị và cũng là cuộc vượt ngục lớn nhất trong lịch sử đấu tranh của tù chính trị Việt Nam trong nhà tù đế quốc.

Sau khi thoát khỏi Hỏa Lò, ông cùng các tù chính trị khác nhanh chóng bắt liên lạc với tổ chức, bổ sung lực lượng lãnh đạo cho các địa phương, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Nhiều đồng chí sau này đảm đương những cương vị quan trọng trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng: Trần Ðăng Ninh, Nguyễn Lam, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tất Ðắc, Trương Thị Mỹ, Lê Quốc Thân, Nguyễn Văn Kha, Vũ Tuân, Nguyễn Cơ Thạch, Lê Trọng Nghĩa...

Tháng 5-1945, Trần Tử Bình tham gia Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ và giữ vai trò Ủy viên Thường vụ. Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, trước vận mệnh dân tộc, ngày 17-8-1945, tại An toàn khu của Xứ ủy ở làng Vạn Phúc (Hà Ðông), nhân danh Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, Trần Tử Bình và Nguyễn Khang nhận lệnh tổ chức Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ vào ngày chủ nhật 19-8-1945.

Sau Cách mạng tháng Tám, Trần Tử Bình được cử làm chỉ huy mặt trận Đường số 2 - Sông Lô, đập tan một trong hai gọng kìm của quân Pháp tiến quân lên Việt Bắc hòng bắt giữ cơ quan đầu não kháng chiến. Với những thành tích và chiến công lập được, ngày 20-1-1948, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 112/SL phong hàm Thiếu tướng và trở thành một trong số 11 vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và đến năm 2001, Thiếu tướng Trần Tử Bình đã được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Trong hồi ức về những ngày tháng Tám lịch sử đó, cố Đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội, đã từng nói: "Từ Nhà hát Lớn Hà Nội, chúng tôi dẫn đầu đoàn quần chúng ào ạt tiến về Phủ Khâm sai... Tôi cùng anh Trần Tử Bình, anh Nguyễn Khang và nhiều quần chúng vượt qua cổng sắt, tràn lên đại sảnh và tiến vào Văn phòng Phủ Khâm sai. Nhân danh Ủy ban Quân sự cách mạng, anh Trần Tử Bình tiến thẳng đến nơi làm việc của Nguyễn Xuân Chữ, người cầm đầu "Ủy ban chính trị" bù nhìn, ra lệnh phải đầu hàng... Đối với tôi, anh Trần Tử Bình luôn là một cán bộ lãnh đạo có bản lĩnh vững vàng, chắc chắn, rất tích cực, xông xáo trong công việc, nhưng không cao ngạo, suy bì mà rất khiêm nhường, thân ái, dễ gần gũi với mọi người. Trong những ngày cùng bị giam ở Hỏa Lò, anh là người đầu tiên dạy tôi rất nhiều về ý thức giai cấp, về tính Đảng, tính tổ chức… Đó là những bài học vô cùng quý giá cho những thanh niên trí thức như tôi khi mới dấn thân vào con đường cách mạng theo Đảng".

Mặc dù Thiếu tướng Trần Tử Bình đã đi xa gần 5 thập kỷ (12-2-1967), nhưng tinh thần chiến đấu, phẩm chất cách mạng và những cống hiến cho dân tộc của ông vẫn còn sống mãi với thời gian. Và tên ông, cũng đã được đặt cho nhiều con phố ở Thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nam Định, Đà Nẵng…

Đặng Giang