Thứ 6, 15/11/2019, 14:57 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Tìm hiểu về Luật Biển Việt Nam

18/09/2014 - 9:10

Biên phòng - Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Indonesia

Bờ biển lục địa Việt Nam và bờ biển Kalimantan, Indonesia, cách nhau khoảng 474 hải lý, khoảng cách gần nhất giữa các đảo của hai bên là 246 hải lý. Gần đảo Natuna Bắc của Indonesia có một rãnh sâu khoảng 80 đến l00m. Căn cứ vào các quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 về việc xác định phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, hai nước có một vùng biển, thềm lục địa chồng lấn cần phân định.

Năm 1969, Indonesia tuyên bố giới hạn thềm lục địa của mình dựa theo nguyên tắc đường trung tuyến tính từ đường cơ sở quần đảo Indonesia và đường cơ sở của các quốc gia hữu quan.

Năm 1971, Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã vạch ranh giới đặc nhượng dầu khí trên thềm lục địa của mình, dựa theo trung tuyến tính từ bờ biển Việt Nam và bờ biển đảo Bornéo, Indonesia. Năm 1972, Indonesia và VNCH đã tiến hành đàm phán phân định vùng biển chồng lấn có diện tích khoảng 40.000km2, được hình thành bởi hai đường trung tuyến: Trung tuyến đảo - đảo và trung tuyến bờ - bờ.

Tháng 6-1978, Việt Nam và Indonesia nối lại đàm phán phân định vùng chồng lấn rộng khoảng 98.000km2, được hình thành bởi đường ranh giới tự nhiên (rãnh sâu) và trung tuyến đảo - đảo. Sau đó, Việt Nam đã đề xuất đường phân định mới, "đường dung hòa", nằm giữa đường rãnh ngầm và đường trung tuyến bờ - bờ, thu hẹp vùng chồng lấn xuống còn 40.000km2. Qua 10 vòng đàm phán cấp chuyên viên, vùng chồng lấn đã được thu hẹp lại còn khoảng 4.500 km2.

Trải qua 2 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 10 vòng đàm phán cấp chuyên viên, 12 vòng đàm phán không chính thức, 4 cuộc trao đổi hẹp cấp Trưởng đoàn chuyên viên và 1 vòng đàm phán về kỹ thuật hải đồ, ngày 26-6-2003, Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia đã được ký kết.

Hiệp định gồm có 6 điều chứa đựng nội dung liên quan đến vị trí đường phân định, tính chất của đường phân định, về bảo vệ môi trường biển, về cách thức xử lý các cấu tạo mỏ dầu khí hoặc mỏ khoáng sản nằm vắt ngang qua đường phân định, cách thức giải quyết hòa bình tranh chấp thông qua hiệp thương hoặc đàm phán. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 29-5-2006.

Hiệp định về "vùng nước lịch sử" giữa Việt Nam và Campuchia

Ngày 07-7-1982, Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử chung. Hiệp định này bao gồm những nội dung chủ yếu như sau:

- Xác định phạm vi cụ thể của "vùng nước lịch sử". Trong phạm vi này, hai nước có quyền áp dụng quy chế pháp lý như đối với vùng nội thủy.

- Thỏa thuận "lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo trong khu vực này". Đây là sự thừa nhận chủ quyền đầu tiên của hai nước đối với các đảo trong khu vực mà trong lịch sử đã tồn tại những tranh chấp phức tạp, kéo dài.

- Thỏa thuận "sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau để hoạch định biên giới biển giữa hai nước trong vùng nước lịch sử".

- Việc tuần tiễu, kiểm soát trong "vùng nước lịch sử" này sẽ do hai bên cùng tiến hành.

- Việc đánh bắt hải sản của nhân dân địa phương trong vùng này vẫn theo tập quán làm ăn từ trước đến nay.

- Đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản... trong "vùng nước lịch sử" sẽ do hai bên cùng thỏa thuận; khi chưa có thỏa thuận không bên nào được đơn phương tiến hành.

Hiệp định về "vùng nước lịch sử" này rất có ý nghĩa về chính trị pháp lý trong lịch sử quan hệ giữa hai nước: Lần đầu tiên vấn đề chủ quyền đối với các đảo trong khu vực đã được giải quyết một cách hợp tình hợp lý và đã tạo ra cơ sở pháp lý để hai nước quản lý, bảo vệ, khai thác các vùng biển của mình, góp phần tạo môi trường ổn định, an ninh, trật tự chung trên biển, củng cố mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước.

Thỏa thuận hợp tác khai thác chung Việt Nam - Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng biển chồng lấn nằm ở gần cửa vịnh Thái Lan, được tạo thành bởi đường ranh giới thềm lục địa do Chính phủ VNCH công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979. Vùng chồng lấn này không rộng, diện tích 2.800km2, nhưng có tiềm năng về dầu khí.

Năm 1992, lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận cùng hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn và trong quá trình hợp tác khai thác chung, chuyên gia hai bên sẽ gặp nhau để vạch đường phân định thềm lục địa trong vùng chồng lấn này. Lập trường của Việt Nam đưa ra trong đàm phán là dựa trên nguyên tắc công bằng, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế có tính đến hoàn cảnh đặc biệt của địa hình bờ biển mỗi nước trong khu vực phân định.

Malaysia sử dụng phương pháp đường trung tuyến tính từ các đảo ven bờ của mình và bờ biển Việt Nam bỏ qua đảo Hòn Khoai, đồng ý áp dụng giải pháp tạm thời hợp tác cùng khai thác chung trong vùng chồng lấn, không làm ảnh hưởng đến việc vạch đường phân định cuối cùng, việc phân chia lợi tức phải công bằng.

Từ ngày 3 đến 5-6-1992, hai bên đã tiến hành đàm phán tại Kuala Lumpur. Tại vòng đàm phán này, hai bên đã ký Văn bản thỏa thuận hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn (MOU). Nội dung chủ yếu của thỏa thuận này gồm:

- Chính thức xác nhận tọa độ khu vực chồng lấn theo đường ranh giới thềm lục địa do Tổng cục Dầu khí Việt Nam công bố năm 1977 (trùng với ranh giới thềm lục địa do VNCH công bố năm 1971) và ranh giới thềm lục địa thể hiện trên hải đồ của Malaysia công bố năm 1979.

- Gác vấn đề phân định thềm lục địa để hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn theo nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lợi ích - Nếu có mỏ dầu khí nằm vắt ngang khu vực xác định và một phần nằm trên thềm lục địa của Malaysia hoặc Việt Nam thì hai bên thỏa thuận thăm dò khai thác.

Về quản lý Nhà nước đối với các hoạt động trong vùng chồng lấn, về nguyên tắc Việt Nam có quyền thực hiện quản lý về hải quan, cảng xuất dầu và công trình trên biển, về thuế, biên phòng...

Tuy nhiên vì khu vực ở xa đất liền, nên Việt Nam có thể ủy quyền cho Malaysia đảm đương các nhiệm vụ nói trên trong vùng chồng lấn. Thỏa thuận này là thoả thuận song phương đầu tiên của Việt Nam với các nước trong khu vực đối với vùng chồng lấn trên biển được hình thành bởi các bên liên quan đã đưa ra các yêu sách ranh giới biển theo đúng các quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982.

Đây là bằng chứng thể hiện Việt Nam đã tuân thủ nghiêm túc các quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982, đặc biệt là giải pháp tạm thời hợp tác khai thác chung vùng chồng lấn.

Cơ chế giải quyết các tranh chấp trên biển trong Công ước của LHQ

Những tranh chấp xảy ra trên biển gồm có nhiều loại khác nhau. Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 không phải là cơ sở pháp lý duy nhất để xử lý, giải quyết tất cả mọi tranh chấp.Tại phần XV, từ Điều 279 đến Điều 299 Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 và các phụ lục có liên quan, đã quy định các nội dung cơ bản như:

- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp;

- Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp;

- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp;

- Trình tự thủ tục hòa giải (Phụ lục V);

- Tổ chức, thẩm quyền và thủ tục tố tụng của Tòa án quốc tế về Luật Biển (Phụ lục VI);

- Thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài (Phụ lục VII);

- Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án trọng tài đặc biệt (Phụ lục VIII)...

Các quy định nói trên của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 là một bước tiến quan trọng của luật pháp quốc tế nói chung và Luật Biển nói riêng, là thành quả đấu tranh của mọi quốc gia, nhất là các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển, các quốc gia không có biển và bất lợi về mặt địa lý... Nó phản ánh đúng xu thế của thời đại hiện đại và văn minh, trong đó, mọi mối quan hệ phải được xử lý bằng pháp luật.

Nguyên tắc nền tảng được dùng làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 là: Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp trong việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các biện pháp hòa bình theo đúng Điều 2, Khoản 3 của Hiến chương LHQ, Điều 33, Khoản 1 của Hiến chương.

Tại Phụ lục V Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 đã trù định việc thành lập một ủy ban hòa giải có chức năng "nghe ý kiến của các bên, xem xét các yêu sách và các ý kiến phản bác của họ và đưa ra có khuyến nghị cho các bên liên quan với mong muốn đạt được một sự hòa giải " (Điều 6, Phụ lục V).

Các bên tranh chấp có thể tuyên bố bằng văn bản chấp nhận quyền tài phán của một trong các cơ quan tài phán sau: Tòa án quốc tế về Luật Biển, Tòa án công lý quốc tế, Tòa trọng tài thông thường hoặc Tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo Phụ lục VIII dành cho các loại tranh chấp đã được định rõ trong Phụ lục này.

Theo quy định tại Điều 296 Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982, các phán quyết của Tòa có thẩm quyền là có tính chất tối hậu (chung thẩm), các bên tranh chấp liên quan phải tuân thủ. Các quy định về giải quyết tranh chấp của Công ước yêu cầu các thành viên của Công ước phải chấp hành, không được bảo lưu.

Tuy nhiên, các quốc gia thành viên có quyền lựa chọn cách thức riêng để giải quyết tranh chấp, có quyền lựa chọn thành phần của tòa án... Cần lưu ý rằng, các quy định nói trên chỉ áp dụng cho những tranh chấp có liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982. Các loại tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, về phân định biên giới, ranh giới biển, thềm lục địa, phân chia lợi ích kinh tế, tài nguyên biển muốn được các cơ quan tài phán quốc tế xét xử thì đều phải có thỏa thuận bằng văn bản của các bên liên quan.

Vụ Philippines kiện Trung Quốc áp dụng và giải thích sai Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 ở Biển Đông hầu như đều nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao của nhiều nước lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, các học giả và luật gia quốc tế. Hiệu quả của vụ kiện này là Tòa án quốc tế về Luật Biển đã thành lập Hội đồng trọng tài 5 thành viên và khởi động phiên đầu tiên vào ngày 11-7-2013.

Hiện tại Philippines vẫn tiếp tục kiên trì không thay đổi lựa chọn này bất chấp việc Trung Quốc tìm mọi cách vận động, cô lập Philippines và ngăn chặn vụ kiện. Theo đánh giá của dư luận thì đó là việc làm văn minh, đúng luật, hoàn toàn không có nghĩa là làm phức tạp vấn đề hay quốc tế hóa vấn đề. Ngược lại, chính việc thông qua cơ quan tài phán có thẩm quyền sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết một cách sòng phẳng và đơn giản hơn nhiều.
(Còn nữa)
BBP