Chủ nhật, 24/09/2017, 01:05 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

“Thuyết di cư cố hữu” nhìn từ Mường Lát

02/07/2017 - 16:20

Biên phòng - Trong 62 huyện nghèo của cả nước, Mường Lát, Thanh Hóa có lẽ nghèo hơn cả. Cái nghèo của Mường Lát từ tháng này qua năm khác làm thất bại nhiều đề án phát triển kinh tế, làm nản chí làm giàu của bao thế hệ người dân nơi đây. Ai đã đặt chân đến Mường Lát rồi mới thấu hiểu nỗi niềm của người đi kẻ ở. Cũng vì thế sẽ nhìn nhận triệt để hơn vấn đề người Mông từ vài thập kỷ trước ồ ạt hồ hởi di cư tới đây, rồi bây giờ lại lặng lẽ toan rời bỏ nơi này.

dp72_10a
Đồng bào Mông ở Mường Lát nhận gạo hỗ trợ của Nhà nước. Ảnh: Trương Thúy Hằng

Lý do “kinh điển”

Mường Lát có khoảng hơn 12 ngàn người Mông di cư tới từ các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong tổng số hơn 23 ngàn người Mông đang sinh sống tại đây. Họ cư trú hầu hết ở các xã biên giới giáp Lào như Tén Tằn, Quang Chiểu, Tam Chung, Pù Nhi, Trung Lý, Nhi Sơn. Cộng đồng người Mông đang là nhóm cư dân dân tộc thiểu số được hưởng ưu đãi nhiều nhất từ các dự án hỗ trợ của Nhà nước ta, nguyên do xuất phát từ thực tế đa số họ là người di cư, nghèo đói, thiếu kiến thức và sinh sống ở các khu vực kém phát triển nhất. Có nhận định cho rằng, vấn đề người Mông di cư tại Mường Lát “cố hữu” và “kinh điển”, ý nói những lý do di cư đã cũ và được nói tới nhiều lần. Và dù có áp dụng mọi biện pháp để ngăn chặn thì tình trạng di cư vẫn xảy ra.

Chúng tôi lặn lội tới tận những bản biên giới heo hút nhất của xã Trung Lý, cái rốn nghèo của cả vùng núi rừng Mường Lát rộng lớn và đường đi tới đó muôn cách trở. Do đặc điểm địa lý, các bản Cá Giáng, Cánh Cộng, Tà Cóm nằm ở bìa rừng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, nhưng cách trở đò giang qua sông Mã. Vừa đi vào rừng, lên núi lại qua sông với những con đường sống trâu mà nắng thì khô khốc, mưa thì nhầy nhụa đất đỏ khiến cho các bản làng ở đây cứ như bị bỏ lại vài cách đây vài thập kỷ. Trung Lý là xã biên giới năm nào cũng có người di cư đi khỏi địa phương. Phần để ghi lý do (di cư) trong các báo cáo của chính quyền địa phương luôn là: Vì nghèo đói, đi tìm phương kế làm ăn.

Đập vào mắt chúng tôi là những cụm dân cư vài nóc nhà heo hút, hoang vắng bên cạnh con sông Mã cuồn cuộn chảy nhưng đất đai thì bỏng cháy khô khốc và không canh tác được gì vì bạc màu. Nắng thế mà bên các cánh rừng tạp, những đám cháy đốt nương của người dân lửa bốc cao, khói ngùn ngụt cả một khoảng trời. Có một đặc điểm chung là những căn nhà ở đây chỉ dư thừa gỗ tốt đóng mộc làm nhà, chứ bên trong trống rỗng, chả có đồ đạc gì giá trị.

Sùng A Su – công an viên của cụm bản Tà Cóm nói rằng, những gia đình nào đã làm nhà lớn, gỗ tốt, có đàn trâu nuôi thả trên rừng là những gia đình không có ý định di cư. Còn những nhà nào tuềnh toàng, tạm bợ, đất canh tác không có, nghiện ngập, nghèo đói là những gia đình có thể bỏ nơi cư trú bất cứ lúc nào. Xét theo quan sát này, thì đa số những gia đình trong bản đều có nguy cơ di cư. Nếu họ có người thân, họ hàng ở một vùng núi khác, ở Tây Nguyên hoặc thậm chí là ở Lào rủ đi thì nguy cơ di cư càng cao.

Ngay khi chúng tôi tới đây thì nhà một người dân trong bản đang liên hoan để ngày mai anh ta rời khỏi địa phương đi làm nghề trồng răng dạo, không biết bao giờ thì trở về. Tôi hỏi trưởng bản, họ có đi trồng răng thật không, hay đấy chỉ là lý do để lại di cư tới địa phương khác? Trưởng bản nói, người đi trồng răng là thật. Người Mông rất khéo tay và sáng tạo. Họ có những nghề rèn dao, trồng răng, khâu giầy, làm nhà... những nghề này để kiếm sống, còn thỏa được cái chí thích ngao du đây đó.

Nhiều hệ lụy

Thiếu tá Phạm Văn Tôn, Đồn BP Trung Lý hiện tăng cường giữ chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy xã Trung Lý cho hay, những năm trước, Mường Lát căng thẳng với vấn đề di cư cho nên xã Trung Lý buộc người dân phải khai báo thông tin khi ra và vào địa bàn. Tức là dù đi thăm thân, đi làm ăn, đi qua xã bên, đi xuống thành phố khám chữa bệnh đều phải khai báo. Sau một thời gian, thấy làm thế người dân mất thời gian với thủ tục hành chính, thật bất tiện; vả lại, xiết lại quản lý nhân khẩu địa bàn cũng không làm cho vấn đề di cư lắng xuống, số lượng người di cư không giảm đi.

Còn đối với các hộ dân di cư, việc bỏ hẳn nơi cư trú chuyển đến nơi khác sinh sống thì họ lại không khai báo bao giờ. Người nào đã khai báo tức là họ không có ý định đi đâu cả. Thế là lại phải nới lỏng quy định khai báo khi rời địa bàn. Thêm một biện pháp chống di cư không trúng.

Năm trước, Trung Lý có 15 hộ di cư đi, năm trước nữa cũng tương tự thế. Vào năm nay, số lượng hộ di cư đi cũng sẽ không giảm. Bởi ngay thời điểm này, có 2 hộ dân người Mông ở bản Tung đã bán hết đồ đạc trong nhà. Chính quyền và các tổ chức đoàn thể ngày nào cũng tới vận động nhưng có vẻ như người thì còn ở đó, nhưng tâm thế đã quay lưng, ruộng nương bỏ bê, chỉ chờ ngày bất ngờ lên đường mà thôi.

Đối thoại một cách thẳng thắn với chúng tôi về hiện tượng người Mông di cư, ông Lầu Minh Pó, Phó Bí thư Huyện ủy Mường Lát ngậm ngùi thừa nhận rằng, dù đã thực thi rất nhiều biện pháp chống di cư thì hiện tượng này vẫn không dứt hẳn. Thêm nữa, nhiều năm qua, chính quyền các cấp của Thanh Hóa đã quá căng thẳng và cứng nhắc khi đối mặt với việc di cư tự do. Hàng ngàn cuộc họp, hiến kế, vận động nhưng người đi vẫn đi. Họ bán hết nhà cửa ruộng nương đi nơi khác làm ăn không được, thất bát, trắng tay rồi lại trở về. Chính quyền huyện lại phải cho xe đi đón, cấp đất canh tác, hỗ trợ làm nhà... để người di cư tái hòa nhập cộng đồng.

Tôi hỏi thẳng ông Lầu Minh Pó, vốn là một cán bộ người dân tộc Mông có tầm khái quát và quan điểm thấu đáo về chính sách dân tộc ở địa phương: “Liệu những người di cư có dựa dẫm vào chính sách ưu đãi có phần đặc biệt của Nhà nước để dự trữ cho bước lùi khi di cư không thành hay không?”. Ông Pó nói không loại trừ khả năng những chính sách ưu đãi không những không thể ngăn chặn di cư, mà còn khiến người dân ỷ lại, yên tâm là đi chán không được, trở về vẫn được đón rước. 

Về phía địa phương, thói quen du cư của người dân kéo theo rất nhiều hệ lụy. Đói nghèo kéo dài, bấp bênh lòng người, các tổ chức đoàn thể thiếu hụt, lỏng lẻo. Thiếu tá Phạm Văn Tôn cũng phải giơ tay kêu trời: “Trong số những người di cư có nhiều đảng viên mà tôi phải mất rất nhiều công sức bồi dưỡng kết nạp từ những quần chúng ưu tú. Có lúc vài hộ dân di cư đi, bản làng lại trắng đảng viên, lại trở lại điểm xuất phát”.

Rõ ràng, việc người Mông di cư có nhiều lý do cần phải được lý giải cặn kẽ. Đã là đảng viên là có kiến thức cơ bản và có ý thức tuân thủ pháp luật nhất định nhưng họ vẫn di cư. Như vậy, lý do di cư không chỉ là đói nghèo và lạc hậu, là nhận thức kém. Đằng sau đó còn nhiều vấn đề đáng suy ngẫm...

Trương Thúy Hằng