Thứ 4, 19/02/2020, 09:25 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Thay đổi một số chính sách bảo hiểm xã hội từ năm 2018

25/12/2017 - 16:10

Biên phòng - Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, tuy nhiên, có nhiều quy định về chính sách, pháp luật BHXH kể từ 1-1-2018 mới chính thức được áp dụng.

Đầu năm 2018, BHXH Việt Nam mở rộng thêm 2 nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là: Người lao động có hợp đồng lao động từ 1 tháng đến dưới 3 tháng và người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

Sửa đổi thứ 2 đó là quy định về đóng, hưởng BHXH hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 1-1-2018 trở đi, tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định tại Khoản 1, điểm a Khoản 2, Điều 4 và điểm a, Khoản 3, Điều 4 của Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16-11-2015 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, được ghi trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương. 

Đối với việc hưởng BHXH cũng từ ngày 1-1-2018 trở đi, thay đổi điều kiện hưởng lương hưu đối với người về hưu trước tuổi. Theo đó, người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, được hưởng lương hưu với mức thấp hơn trong trường hợp bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% thì phải đủ điều kiện về tuổi đời như sau: Năm nghỉ hưởng lương hưu năm 2018 đối với nam từ đủ 53 tổi trở lên, với nữ là đủ 48 tuổi trở lên. Năm nghỉ hưu 2019 đối với nam phải từ đủ 54 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 49 tuổi trở lên; tiếp đó từ năm 2020 trở lên thì nam phải từ đủ 55 tuổi trở lên, nữ từ đủ 50 tuổi trở lên. Riêng trường hợp người lao động đã có thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên, trong đó có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì không kể tuổi đời.

Thay đổi thứ 3 đó là, tăng dần số năm đóng BHXH để được hưởng mức lương hưu tối đa. Từ 1-1-2018, lao động nữ nghỉ hưu khi đóng đủ 15 năm BHXH hưởng lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Từ năm thứ 16 trở đi, mức hưởng BHXH tăng thêm 2%; đóng đủ 30 năm được hưởng lương hưu tối đa 75% thay vì 25 năm như hiện nay.

Hiện lao động nam đóng 15 năm BHXH hưởng lương hưu 45% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Từ 1-1-2018, để hưởng mức trên, lao động nam phải đóng đủ 16 năm; tới 2022 phải tham gia 20 năm BHXH mới được hưởng mức 45%. Muốn hưởng lương hưu ở mức tối đa 75%, lao động nam phải đóng bảo hiểm 35 năm, thay vì 30 năm như hiện nay. 

Lao động nam nghỉ hưu trong năm 2018 đóng đủ 31 năm BHXH hưởng lương hưu tối đa 75% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Nếu lao động nam nghỉ hưu từ năm 2019, 2020, 2021 và 2022 trở đi phải đóng tương ứng từ 32 đến 35 năm BHXH mới được hưởng 75%. Muốn hưởng lương hưu tối đa 75%, người lao động đóng BHXH thêm 5 năm nữa so với hiện nay. Mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi theo quy định thì bị trừ 2%.

Thứ 4, đó là, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện. Người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn: 30% đối với người tham gia thuộc hộ nghèo; 25% đối với người tham gia thuộc hộ cận nghèo; 10% đối với các đối tượng khác.

Thứ 5, đó là sẽ tăng chế tài xử lý đối với một số hành vi vi phạm pháp luật về BHXH . Theo đó, người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền BHXH, Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) từ 10 triệu đến dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đến dưới 200 triệu đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này thì bị phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm nếu: lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, hồ sơ BHTN lừa dối cơ quan BHXH; dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan BHXH hưởng các chế độ BHXH, BHTN.

Điều 214 cũng quy định phạt tiền từ 100 đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm với một trong các trường hợp sau đây: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN từ 100 đến dưới 500 triệu đồng; gây thiệt hại từ 200 đến dưới 500 triệu đồng; dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; tái phạm nguy hiểm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm: chiếm đoạt tiền BHXH, BHTN 500 triệu đồng trở lên; gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Người nào gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ BHXH, Bảo hiểm y tế, BHTN cho người lao động theo quy định từ 6 tháng trở lên, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50 đến 200 triệu đồng; phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm.

Các hành vi phạm tội được nêu làm căn cứ áp dụng chế tài trên gồm: trốn đóng bảo hiểm từ 50 triệu đến dưới 300 triệu đồng; trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động. Nếu pháp nhân thương mại phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 200 đến 500 triệu đồng.

Điều 216 cũng quy định phạt tiền từ 200 đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm với các hành vi: phạm tội 2 lần trở lên; trốn đóng bảo hiểm từ 300 triệu đồng đến dưới một tỷ đồng; trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 đến dưới 200 người; không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều 216 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu pháp nhân thương mại phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 500 triệu đến một tỷ đồng.

Trường hợp nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: trốn đóng bảo hiểm một tỷ đồng trở lên; trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên; không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều 216 Bộ luật Hình sự 2015. Nếu pháp nhân thương mại phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng.

Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.

Huy Đức