Chủ nhật, 15/09/2019, 19:34 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945

28/08/2015 - 9:33

Biên phòng - Cách đây 70 năm, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

12-1.jpg
Hàng vạn đồng bào dự lễ mít tinh tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2-9-1945. Ảnh: Tư liệu

Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn câu nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"

1. Người lại viện dẫn từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi" 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được" 3. Cách lập luận này vừa khéo léo lại vừa cương quyết.

Khéo léo vì Bác cho người đọc thấy rõ sự tôn trọng của mình đối với bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Kiên quyết vì thêm một lần nữa, Bác chính thức cảnh báo rằng: Nếu họ cứ tiếp tục tiến công xâm lược Việt Nam thì chính họ chứ không phải ai khác đã phản bội và chà đạp lên lá cờ nhân đạo của tổ tiên mình và nhất định sẽ nhận thất bại nhục nhã. Mục đích cuối cùng của việc đưa ra các lý lẽ mang tính logic và thuyết phục này là muốn khẳng định độc lập, chủ quyền của dân tộc Việt Nam.

Sự ra đời của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là một sự kiện lịch sử trọng đại, phản ánh sự kết tinh những phẩm giá cao quý nhất của dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó cũng khẳng định tầm nhìn sâu rộng của một nhà quân sự chiến lược vĩ đại - Hồ Chí Minh.

Với tư tưởng nhân nghĩa, khoan dung và chính sách thêm bạn, bớt thù, bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra một cơ hội lịch sử cho quan hệ đối ngoại thân thiện giữa nước ta với các nước trên thế giới và trong khu vực, trong đó có nước Mỹ và nước Pháp.

Rõ ràng, ngay từ thời kỳ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng quan hệ thân thiện giữa Việt Nam với các nước, trên tinh thần "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai". Thế nhưng, cơ hội lịch sử đó đã bị phía Mỹ và Pháp bỏ qua, đúng vào thời điểm Việt Nam cùng đứng vào phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít thắng lợi.

Xét trên nhiều phương diện, có thể nói, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 thể hiện truyền thống yêu nước, bản lĩnh chính trị, quyết tâm đấu tranh để giành và bảo vệ quyền sống trong độc lập, tự do. Nhưng lúc đó vận mệnh của dân tộc ta cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới lại trực tiếp bị đe dọa rơi vào ách nô lệ bởi những mưu toan mới của các cường quốc thực dân, đế quốc. Trong bối cảnh lịch sử đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ đối tượng kẻ thù của cách mạng Việt Nam và của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Trước năm 1945, những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và lên án chủ yếu tập trung vào thực dân Pháp (như bản "Yêu sách 8 điểm" gửi Hội nghị Véc-xây vào đầu năm 1919; "Bản án chế độ thực dân Pháp" năm 1925...) thì năm 1945, do tình hình phát triển, với tư duy chính trị vô cùng nhạy cảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm tất cả để tranh thủ đối tượng kẻ thù, kể cả long trọng khởi đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của nước mình bằng chính nội dung tinh túy nhất trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ.

Trên cơ sở pháp lý và chính nghĩa, Tuyên ngôn Độc lập trở thành văn kiện mẫu mực, tầm cỡ chiến lược phân hóa, cô lập kẻ thù để loại bỏ trực tiếp từng kẻ thù nguy hiểm của cách mạng. Đứng trước họa thực dân Pháp dã tâm trở lại đô hộ nước ta dưới bóng cờ quân Đồng minh, Tuyên ngôn Độc lập sau khi vạch trần tội ác tày trời của chúng đối với nhân dân Việt Nam, lột rõ bộ mặt "bảo hộ" giả nhân, giả nghĩa, đã lập luận vững chắc một thực tế lịch sử: Từ mùa thu năm 1940, bọn thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng dâng đất nước ta cho phát xít Nhật. Cho nên cũng từ đó, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Nhật và Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân ta giành lại nước Việt Nam từ tay phát xít Nhật.

Do đó, cơ sở pháp lý về sự tồn tại quyền lợi của Chính phủ Pháp ở Việt Nam cũng như trên toàn Đông Dương không còn nữa. Theo các hiệp nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, nếu các nước Đồng minh công nhận quyền dân tộc tự quyết của các nước đã bị phát xít chiếm đóng thì "quyết không thể không công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam".

Tuyên ngôn Độc lập  ngày 2-9-1945 là văn bản có tính chính luận mẫu mực và giá trị lịch sử to lớn. Đây là bản anh hùng ca bất hủ của thời đại Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy sâu sắc những áng "thiên cổ hùng văn" của dân tộc như: "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt, "Bình ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. Tuyên ngôn Độc lập còn là sự đúc kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ đấu tranh vì nhân quyền - dân quyền, vì độc lập tự do của dân tộc và nhân loại, thể hiện hùng hồn ý chí quyết tâm và sức mạnh đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập thể hiện nguyện vọng chính đáng, quyết tâm sắt đá và tính chủ động về chiến lược của nhân dân ta: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

70 năm đã trôi qua, kể từ ngày bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Thủ đô Hà Nội và đất nước ta đã có nhiều đổi thay lớn lao trên con đường đi lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua các kỳ đại hội, Đảng ta luôn giữ vững đường lối độc lập dân tộc. Cương lĩnh của Đảng là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên CNXH, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và nhân dân ta trong những thập kỷ tới.

Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: "Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống".

Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 vang vọng mãi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ chân lý chính nghĩa, pháp lý đanh thép và đạo lý cao cả của dân tộc Việt Nam giành độc lập, tự do. Ánh sáng của Tuyên ngôn Độc lập đã khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

1 Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, tr. 1.
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, tr. 272.
3 Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, tr. 555.
Thượng tướng, Viện sĩ, TS Khoa học quân sự Nguyễn Huy Hiệu