Thứ 2, 09/12/2019, 07:58 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Phát triển bền vững vùng đặc biệt khó khăn

01/08/2011 - 17:38

Biên phòng - Ngày 19-5-2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020, nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với mục tiêu đưa thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm (riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn), Nghị quyết 80 sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, đồng thời thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.

Bước hoàn thiện tiếp theo của Chương trình 135 giai đoạn II:

5 năm qua, một trong những mô hình giảm nghèo hiệu quả nhất của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao là Chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010).

Thành tựu của chương trình đã góp phần quan trọng tạo nên sự thay đổi và khởi sắc mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên địa bàn 1.958 xã và 3.274 thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc - miền núi (sau đây gọi tắt là khu vực ĐBKK) của 369/690 huyện thuộc 50/63 tỉnh trong toàn quốc.

Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực ĐBKK giảm từ 47% (năm 2006) xuống còn 28,8% (năm 2010) - vượt chỉ tiêu chương trình đề ra. Hiệu quả tích cực của chương trình còn thể hiện ở chỗ mức thu nhập trung bình đầu người tăng gấp đôi; tỷ lệ xã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm xã đến thôn, bản tăng lên 80,7%; 100% số xã có trạm y tế; tất cả người dân có nhu cầu được trợ giúp pháp lý miễn phí.

media

Nghị quyết 80/NQ-CP tạo đà giúp đồng bào DTTS nghèo xóa đói giảm nghèo bền vững

Tuy nhiên, dù ngân sách Trung ương bố trí cho chương trình 135 lên tới 14.025,25 tỷ đồng nhưng trên thực tế, vùng dân tộc và miền núi nước ta còn rất nhiều khó khăn, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém, chưa đồng bộ. Đường giao thông, các công trình hạ tầng quan trọng chủ yếu mới được xây dựng ở các khu vực trung tâm xã chưa tới được thôn bản, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá và phục vụ nhu cầu cơ bản của đời sống nhân dân. Hiện vẫn còn 535 xã chưa có đường hoặc chưa có đường nhựa, đường bê tông đến trung tâm xã; 204 xã chưa có điện lưới quốc gia; 8.100 thôn chưa được sử dụng điện lưới quốc gia; 758 xã và 16.284 thôn, bản chưa có nhà văn hóa; 32,2% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh...

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử cho biết: Nhu cầu đầu tư của các khu vực ĐBKK còn rất lớn và tập trung vào 2 hướng: Đầu tư xây dựng các công trình mới và hoàn thiện các công trình chưa hoàn thành; hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao năng lực nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững. Những vấn đề bức xúc của người dân đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần tiếp tục ban hành một Chương trình phát triển kinh tế - xã hội khu vực ĐBKK vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2011-2015 với nguồn lực đủ lớn để thay thế cho Chương trình 135 giai đoạn II. Mặt khác, hiện nay, tất cả các xã ĐBKK đều đang thực hiện Nghị quyết 30a/NQ-CP về giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai tại vùng dân tộc - miền núi.

Do vậy, Nghị quyết 80/NQ-CP ra đời là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Với mục tiêu, đối tượng và chính sách cụ thể Nghị quyết sẽ tập trung nguồn lực đầu tư trên cơ sở lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn khu vực ĐBKK để đảm bảo hiệu quả nội dung và nguồn vốn đầu tư. Đây cũng là nguồn lực quan trọng hỗ trợ cho khu vực này đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội để có khả năng đạt được các tiêu chí nông thôn mới. Ngoài việc thực hiện chính sách giảm nghèo chung cả nước, Nghị quyết 80/NQ-CP đã đề ra những chính sách đầu tư phát triển đặc thù, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đối với vùng dân tộc và miền núi, nhất là các xã, thôn, bản ĐBKK để tạo đà thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn hội nhập cùng với sự phát triển chung của cả nước.

Vượt qua thách thức để phát triển bền vững:

Theo ông Trịnh Công Khanh, Vụ trưởng Vụ Chính sách Ủy ban Dân tộc, muốn phát triển bền vững khu vực ĐBKK phải vượt qua được những thách thức về kinh tế, tài nguyên môi trường, văn hoá và bản sắc, xã hội. Những thách thức lớn về tỷ lệ hộ nghèo cao, trình độ dân trí thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém... đòi hỏi các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và các chương trình khác phải tập trung các hoạt động và nguồn lực ưu tiên đầu tư trước cho các huyện nghèo, xã nghèo để đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các địa bàn này. Trong đó, ưu tiên đầu tư trước để hoàn thành đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới các công trình hạ tầng cơ sở, đặc biệt là trường lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa ở các xã ĐBKK.

Một trong những ưu tiên hàng đầu trong Nghị quyết 80/NQ-CP là thực hiện Đề án hỗ trợ giảm nghèo ở khu vực ĐBKK vùng đồng bào dân tộc và miền núi, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển có xu hướng doãng rộng so với các vùng khác trong cả nước. Chính phủ cũng nhất trí mở rộng chương trình quân dân y kết hợp; xây dựng mô hình giảm nghèo gắn với an ninh quốc phòng để hỗ trợ sản xuất, tạo thu nhập cho người nghèo trên địa bàn biên giới, đồng thời tăng cường BĐBP về đảm nhiệm vị trí cán bộ chủ chốt ở các xã biên giới. Song song với đó, Ủy ban Dân tộc đang khẩn trương xây dựng, trình ban hành các chính sách đặc thù để hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực ĐBKK vùng dân tộc và miền núi và các dự án bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít người; xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực làm công tác dân tộc giai đoạn 2011-2020. Đến thời điểm này, nhiều dự án giảm nghèo bền vững đối với vùng dân tộc - miền núi đang mang lại kết quả tích cực như: Đề án bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội đối với 4 dân tộc: Mảng, Cống, Cờ Lao, La Hủ; Đề án phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010-2015; Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số...

Thực tiễn hơn 10 năm thực hiện Chương trình 135 cho thấy chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số chỉ thực sự phát huy được hiệu quả khi người dân tham gia nhiều hơn vào việc xây dựng, thực thi chính sách và phản biện những chính sách chưa hợp lý, tiến tới nhân dân trực tiếp tham gia quản lý, giám sát thực hiện chính sách, chương trình, dự án. Cần xác định đúng thực trạng đói nghèo, đúng địa bàn ưu tiên, các xã nghèo nhất, thôn, bản khó khăn nhất, từ đó tập trung nguồn lực, tránh sự dàn trải. Một vấn đề quan trọng nữa, cần phân cấp, trao quyền, tạo sự chủ động cho cơ sở và tăng cường sự kiểm tra, giám sát để phát hiện, điều chỉnh những sai sót, bất cập.

Hộ nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số; hộ nghèo, người nghèo sinh sống ở huyện nghèo, xã nghèo và thôn, bản ĐBKK được hưởng các chính sách ưu tiên sau:

- Hộ nghèo, người nghèo ở các xã ĐBKK, xã an toàn khu, xã biên giới và các thôn, bản ĐBKK được hưởng chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ.

- Hộ nghèo ở các thôn, bản giáp biên giới không thuộc huyện nghèo trong thời gian chưa tự túc được lương thực được hỗ trợ 15 kg gạo/ khẩu/ tháng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ.

- Có chính sách ưu đãi cao hơn về mức đầu tư, hỗ trợ về lãi suất đối với hộ nghèo ở các địa bàn ĐBKK.

- Mở rộng chính sách cử tuyển đối với học sinh thuộc hộ gia đình sinh sống ở các địa bàn ĐBKK.

- Xây dựng chính sách học bổng cho con em hộ nghèo dân tộc thiểu số ở các địa bàn ĐBKK học đại học.

- Ưu tiên hỗ trợ nhà văn hóa cộng đồng, đưa thông tin về cơ sở, trợ giúp pháp lý miễn phí đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn ĐBKK.

- Xây dựng dự án bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít người, dự án định canh định cư để hỗ trợ người dân ở các địa bàn ĐBKK (núi đá, lũ quét, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai).

(Trích Nghị quyết 80/NQ-CP).

Hoàng Long