Thứ 3, 17/09/2019, 18:12 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Phân định vùng dân tộc và miền núi: Hiệu quả từ một chủ trương lớn

Phân định vùng dân tộc và miền núi: Hiệu quả từ một chủ trương lớn

26/09/2012 - 8:37

Biên phòng - Hiện nay, vùng dân tộc, miền núi có trên 22.000 thôn, bản và hơn 5.000 xã, phường, thị trấn với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên khác biệt và mặt bằng kinh tế, xã hội không đồng đều. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống chính sách cho vùng dân tộc và miền núi ngày càng toàn diện và đầy đủ trên mọi lĩnh vực. Điều đó đã đặt ra vấn đề cần phải phân định các xã vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển, làm cơ sở để các cơ quan chức năng xây dựng và triển khai các chính sách dân tộc một cách hợp lý, có hiệu quả, phù hợp cho từng khu vực nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Một chủ trương đúng đắn

Tính đến nay, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Dân tộc đã ba lần ban hành các tiêu chí và tiến hành phân định vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển. Theo đó, Ủy ban Dân tộc đã thống nhất với các bộ, ngành, địa phương phân định vùng dân tộc và miền núi thành 3 khu vực: Khu vực I là các xã bước đầu phát triển bằng hoặc tương đương mức bình quân chung của cả nước. Khu vực II là các xã tạm thời ổn định, nhưng chưa thật vững chắc, cơ sở hạ tầng đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh và vẫn còn các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Khu vực III là các xã khó khăn nhất với điều kiện sống, các dịch vụ xã hội và hạ tầng cơ sở yếu kém.

Sau 15 năm phân định vùng, cùng với việc áp dụng triển khai hàng loạt các chính sách dân tộc phù hợp cho từng vùng như: Chương trình 135 về phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình 134 về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cho đồng bào nghèo vùng dân tộc thiểu số; các chính sách giáo dục như: Cử tuyển con em các dân tộc thiểu số vào học các trường đại học, cao đẳng; ưu tiên điểm đối với học sinh thi vào các trường đại học, cao đẳng; chính sách thu hút giáo viên, cán bộ y tế lên công tác ở các xã vùng cao đặc biệt khó khăn...

Thông qua các chương trình này, vùng dân tộc và miền núi đã có những bước phát triển quan trọng dẫn tới sự chuyển dịch mạnh mẽ giữa xã thuộc các khu vực, trong đó, rõ nét nhất là số lượng thôn, bản đặc biệt khó khăn và các xã thuộc khu vực III đã giảm đáng kể. Theo Báo cáo "Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí phân định vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển" của Ủy ban Dân tộc tháng 10 - 2011, dựa vào các chỉ tiêu được quy định trong Thông tư 41/UB-TT, ngày 08/01/1996: Có 955 xã thuộc khu vực I, 1.940 xã khu vực II và 1.718 xã khu vực III.

Nhưng đến nay, theo các chỉ tiêu quy định trong Bộ tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012-2015, ước tính các xã khu vực III giảm chỉ còn 1.500 xã, tăng lên 2.270 xã khu vực II và 1.300 xã khu vực I. Như vậy, khoảng cách phát triển giữa các vùng đã dần được thu hẹp, cho thấy việc phân định vùng theo trình độ phát triển là một chủ trương đúng đắn, mang tính thực tiễn cao.

 8511a.gif
Công trình cầu tràn xã Châu Thắng (xã khu vực III), huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Phát huy tối đa hiệu quả của việc phân định vùng

Trong Báo cáo "Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí phân định vùng dân tộc và miền núi theo trình độ phát triển", cụ thể đối với Quyết định 393/2005/QĐ-UBDT, Ủy ban Dân tộc cho biết: "Kết quả phân định chưa phù hợp với một số tiêu chí. Theo một kết quả đánh giá cho thấy, hầu hết các xã được chọn dường như có điều kiện tốt hơn tiêu chí lựa chọn. Cụ thể, đối với khu vực III, trung bình chỉ có 6% xã thiếu đường tới trung tâm xã, 26% xã khó tiếp cận vào mùa mưa.

Về điện, dưới 1/5 xã không có điện lưới quốc gia; không có xã nào không có trường tiểu học và chỉ 8% không có trường trung học cơ sở, chỉ 3% các xã không có trạm xá. Trong khi, theo tiêu chí quy định đối với các hạng mục trên là "Thiếu hoặc có nhưng còn tạm bợ từ 6/10 loại công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu trở lên". Cũng theo báo cáo, "Nếu sử dụng chuẩn nghèo dưới 200.000 đồng/người/tháng theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ thì tỷ lệ hộ nghèo chung cho các xã, thôn thuộc địa bàn của Chương trình 135 chỉ là 41%.

Điều đó có nghĩa gần 59% xã khá giả hơn tiêu chí lựa chọn xét về tỷ lệ nghèo tối thiểu". Kết quả này cho thấy, về thực chất, các xã thuộc khu vực III đã có mức độ phát triển cao hơn trong chỉ tiêu quy định. Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu không được lượng hóa gây khó khăn cho các cơ quan, ban, ngành địa phương trong quá trình xét duyệt và triển khai các chính sách dân tộc. Và điều đó đã ít nhiều hạn chế sự kích thích phát triển của từng vùng cũng như không phát huy triệt để hiệu quả của các chính sách đầu tư.

Để thực hiện chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Chính phủ cũng đã công bố chuẩn nghèo mới và tiến hành Tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc làm căn cứ thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015. Đây chính là những yếu tố cơ bản và thời điểm thuận lợi để ra đời Quyết định về Bộ tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012-2015, chính thức có hiệu lực từ ngày 6-9-2012.          

Khánh Ngọc