Chủ nhật, 29/03/2020, 06:36 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Nốt nhạc xanh trên cao nguyên đá

01/08/2018 - 21:14

Biên phòng - Trên cao nguyên đá Hà Giang, người Pu Péo như một “nốt nhạc” trong veo trong “bản nhạc” dày âm sắc của cộng đồng các dân tộc thiểu số sinh sống ở đây. Nền văn hóa truyền thống với phong tục, tập quán độc đáo, người Pu Péo tạo được một dấu ấn riêng, đậm nét dù dân số ít hơn rất nhiều các dân tộc khác.

r52n_9a
Trang phục truyền thống của phụ nữ Pu Péo có nhiều họa tiết phải làm thủ công rất cầu kỳ. Ảnh: Bích Nguyên

Nhìn bàn thờ biết người Pu Péo

 “Dân tộc Pu Péo chỉ sống ở tỉnh Hà Giang. Muốn biết về người Pu Péo, hãy tới thôn Chúng Chải, xã Phố Là, huyện Đồng Văn” - Theo lời chỉ dẫn của một cán bộ Biên phòng, chúng tôi đến Chúng Chải vào một ngày nắng vàng, trời xanh ngắt.

Người đầu tiên chúng tôi gặp là ông Củng Chẩn Tráng, năm nay 58 tuổi, người được ví như “pho sử sống” của dân tộc Pu Péo. Qua lời ông Tráng và những điều còn lưu lại trong các bài cúng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng địa đầu Tổ quốc Hà Giang cho thấy, người Pu Péo là một trong những cư dân sinh sống lâu đời nhất ở đây. Trải qua nhiều thăng trầm, dân tộc Pu Péo hiện còn 736 người (theo kết quả Điều tra biến động dân số, kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1-4-2014), sống tập trung tại huyện Đồng Văn và Yên Minh. Với số dân ít ỏi, Pu Péo hiện là 1 trong số 6 dân tộc ít người nhất Việt Nam (dưới 1.000 người).

Văn hóa độc đáo của người Pu Péo thể hiện rõ nhất ở bàn thờ tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần rừng, tiếng nói, kho tàng truyện cổ tích phong phú. Đặc biệt, sắc áo chàm với những họa tiết khâu, thêu bằng tay công phu và chiếc váy màu xanh đặc trưng khiến cho phụ nữ Pu Péo không thể lẫn vào bất cứ dân tộc nào khác. Sự khác biệt văn hóa lớn nhất của người Pu Péo với các dân tộc khác có lẽ là bàn thờ tổ tiên.

“Nhìn vào bàn thờ là biết nhà của người Pu Péo” - Ông Củng Chẩn Tráng bật mí rồi dẫn chúng tôi vào gian bên trái nhà. Trong quan niệm của người Pu Péo, đây là gian giữ hồn chủ nhà. Chúng tôi quan sát thấy ở gian này đặt bàn thờ tổ tiên. Trên ban thờ đặt 3 bát hương, phía ngoài dán nhiều tờ giấy màu. Dưới ban thờ kê một chiếc giường, bên cạnh là bếp thiêng (còn gọi là bếp sưởi). Trong nhà của người Pu Péo luôn có hai bếp (bếp thiêng và bếp nấu ăn). Trên bếp thiêng luôn có chiếc ấm đun nước thờ cúng. Ông Tráng giải thích: “Giường thờ cũng là giường ngủ của các cụ. Khi làm lễ cúng, chúng tôi sắp mâm lễ trên giường. Chỉ đàn ông mới được sắp mâm cúng và thắp hương tổ tiên”.

Sống với rừng, gắn bó với rừng, từ nhiều đời nay, người Pu Péo có luật bất thành văn là không vào rừng chặt phá cây cùng nhiều điều kiêng kỵ khác. Điều này ăn sâu vào tiềm thức người Pu Péo và trở thành tín ngưỡng Thờ Thần rừng như một dòng chảy liên tục từ đời này sang đời khác. Nhờ vậy, trong khu vực người Pu Péo sinh sống, rừng được bảo vệ nghiêm ngặt. Cách nhà ông Tráng vài trăm mét là khu rừng nguyên sinh rậm rạp.

“Người dân trong thôn làm lễ cúng Thần rừng vào ngày 6-6 âm lịch hàng năm. Chúng tôi mặc trang phục truyền thống, đến cửa rừng dâng lễ lên Thần rừng. Lễ vật gồm có gà, dê và một số vật phẩm khác. Các lễ vật này được dâng lên Thần rừng 2 lần, khi còn sống và sau khi đã nấu chín. Thầy cúng mời Thần rừng, Thần sông suối, Thần đồi, nương rẫy, gọi hết tên đồi, núi và tổ tiên về hưởng lễ. Nội dung bài khấn cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu. Làm lễ cúng xong, bà con ăn cơm và chơi các trò chơi dân gian ở đây” - Ông Tráng kể.

Những điều luyến tiếc

Trong nhiều năm qua, người Pu Péo mở rộng giao lưu với các dân tộc khác. Con trai, con gái Pu Péo không kết hôn với nhau mà thường lấy người Cờ Lao, Tày, Kinh, Hán, Nùng. Thế nhưng dân số vẫn không tăng thêm được bởi “đôi trẻ lười đẻ” như lời cảm thán của ông Tráng. Hơn nữa, con gái Pu Péo lấy con trai dân tộc khác, khi sinh con, đứa trẻ mang họ bố. Đó cũng là một lý do khiến cho người Pu Péo ít dần. Văn hóa truyền thống của người Pu Péo cũng đang bị mai một khiến cho ông Tráng không khỏi day dứt. Đầu tiên là tiếng nói. “Không còn nhiều người nói được tiếng Pu Péo nữa. Nhiều người giờ nói tiếng Mông, thậm chí theo luôn phong tục của người Mông” - Ông Tráng cho hay.

Dân tộc Pu Péo là một trong số ít dân tộc biết sử dụng trống đồng và có điệu múa trống đồng. Trống đồng của người Pu Péo cao chừng 50cm, khi đánh phải có đôi, tức có trống đực và trống cái. Trên mặt trống vẽ hình các ngôi sao 8 cánh, con vật và nhiều hoa ăn đủ màu sắc. Điệu múa trống đồng của người Pu Péo giống dân tộc Lô Lô, nhưng cách gõ trống lại khác. Ông Tráng còn nhớ, năm 1962, có một cơ quan Nhà nước đến mượn một chiếc trống, có giấy biên nhận đàng hoàng mà giờ không tìm đâu ra. Còn một chiếc khi xảy ra chiến tranh bảo vệ biên giới (năm 1979), khi chạy giặc, bà con có mang theo nhưng cũng bị thất lạc từ đó. Điều này khiến ông Tráng luôn day dứt, tiếc nuối.

Đáng lo hơn cả là việc thực hành văn hóa không thường xuyên khiến cho nhiều nét văn hóa truyền thống gắn với sinh hoạt hàng ngày của người Pu Péo cũng nhạt phai dần. Con dâu của ông Tráng mất khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ để mặc bộ quần áo truyền thống của dân tộc Pu Péo cho chúng tôi xem. Chị lóng ngóng mãi mới vấn được tóc, cài lược sừng trâu lên đầu - biểu thị người phụ nữ đã có chồng. Chị bảo, được mẹ chồng dạy vấn tóc và khâu quần áo nhưng vẫn chưa thể thuần thục. 

Tôi hỏi: “Có nhiều người biết làm trang phục truyền thống không?”. Bà Củng Thị Xuân, một trong số ít người Pu Péo hiện giờ vẫn tự tay khâu quần áo để mặc và bán, thốt lên: “Không còn có nhiều người biết thêu thùa, may quần áo truyền thống nữa, nhất là lớp trẻ”. Theo bà Xuân, các bài hát, điệu múa của người Pu Péo cũng rơi rụng dần, không còn ai biết để truyền dạy lại cho lớp sau. “Tôi cũng chỉ nhớ được 6 bài hát thôi. Mai sau, không biết người Pu Péo chúng tôi còn giữ được những gì?” - Bà Xuân giãi bày.

Bích Nguyên