Thứ 4, 13/11/2019, 22:06 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Nhiệm vụ đặc biệt ở mặt trận Điện Biên Phủ

08/05/2014 - 10:37

Biên phòng - Đã 60 năm trôi qua, những cựu chiến binh Điện Biên Phủ nay đều ở cái tuổi "xưa nay hiếm", nhưng nhiều người vẫn còn nhớ rất rõ những nhiệm vụ đặc biệt mà mình được cấp trên giao phó. Ông Nguyễn Xuân Tính, 84 tuổi, trú tại phường Trung Đô, TP Vinh, Nghệ An và ông Hoàng Tư, 95 tuổi, trú tại xóm 12, Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An là hai người trong số đó.

jgl0_9a-1.JPG
Ông Nguyễn Xuân Tính lưu giữ cẩn thận hình ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các chiến sĩ Điện Biên năm xưa.
Hỏi cung tướng Đờ Cát

Ông Nguyễn Xuân Tính quê ở Đông Sơn, Thanh Hóa. Năm 18 tuổi, khi đang theo học trường Tây thì ông được giác ngộ cách mạng, bước chân vào đời quân ngũ. Trong quân đội, ông được biên chế ở Đại đoàn 312, đóng quân tại Hà Nội. Năm 1954, trước thời điểm trận Điện Biên Phủ nổ ra, Đại đoàn 312 của ông, cùng 4 đại đoàn khác được lệnh hành quân lên mặt trận và tham gia trực tiếp vào nhiều trận đánh ác liệt với địch. "Đến 5 giờ 30 phút, chiều 7-5, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng một số chiến sỹ xông vào hầm chỉ huy, bắt sống tướng Đờ Cát và giải về Sở Chỉ huy Đại đoàn 312. Lúc đó, tôi đang là Trợ lý đại đoàn, với khả năng tiếng Pháp của mình, tôi được điều động lên cùng các đồng chí khác làm nhiệm vụ hỏi cung viên tướng, cùng các tù binh bại trận. Đó là một kỷ niệm đẹp trong đời lính của tôi" - Ông Tính tâm sự.

Ông lại kể tiếp câu chuyện: "Thời điểm đó, Đờ Cát đội mũ ca lô, mặc bộ quân phục mùa hè phẳng nếp, khuôn mặt tái mét nhưng nói năng rất kiểu cách. Lúc này, Tư lệnh trưởng Đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn cho phép Đờ Cát và Bộ Tham mưu của ông ta được ngồi. Thấy chỉ có một mình Đờ Cát ngồi, Tư lệnh trưởng Lê Trọng Tấn nhắc lại: "Tôi cho phép tất cả các ông được ngồi". Một viên quan năm lên tiếng: "Thưa ngài, Thiếu tướng của chúng tôi chưa cho phép ngồi". Ông Tấn dằn giọng: "Không còn tướng tá nào nữa. Tất cả các ông đều là tù binh nên mọi mệnh lệnh của chúng tôi, các ông phải chấp hành".

"Tư lệnh trưởng Đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn vốn là bậc thầy về tiếng Pháp, sau khi trực tiếp hỏi Đờ Cát những thông tin ban đầu đã giao lại việc hỏi cung cho các chỉ huy khác. Tôi vừa trực tiếp hỏi cung, vừa phiên dịch cho các đồng chí khác thẩm vấn. Tôi còn nhớ như in những câu hỏi của Chỉ huy Đại đoàn 312, cũng như các câu trả lời của tướng Đờ Cát trong cuộc hỏi cung lịch sử đó" - Ông Tính nói. Rồi ông đọc rành rọt và dẫn giải cho chúng tôi nghe cả đoạn hỏi cung của chỉ huy Đại đoàn 312 cũng như câu trả lời của tướng Đờ Cát: Khi chỉ huy Đại đoàn 312 hỏi: "Ông và Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã tuyên bố "Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm" và chính ông đã cho máy bay rải truyền đơn mời chúng tôi vào chơi trong cái bẫy đã giăng sẵn của ông ở Điện Biên Phủ. Nay ông nghĩ thế nào về nơi đó?". Lúc này Đờ Cát không trả lời thẳng vào câu hỏi mà chỉ nói một cách chua chát: "Vâng, hôm nay chúng tôi đã được gặp các ngài". Khi vị chỉ huy của ta hỏi tiếp: "Các ông đánh giá thế nào về lực lượng pháo binh của mình ở Điện Biên Phủ và Pi-rớt - Chỉ huy pháo binh của các ông đã tuyên bố: Chỉ cần phản pháo 10 phút thì pháo của Việt Minh phải “câm họng” và sau 2 ngày, pháo các ông sẽ nghiền nát chúng tôi? Lúc này Đờ Cát chỉ nói rằng, chúng tôi không ngờ các ngài đem pháo hạng nặng lên Điện Biên Phủ và sử dụng có hiệu quả nên đã áp chế được pháo của chúng tôi. Đờ Cát cũng cho biết, do không nghiền nát được pháo của ta nên Đại tá Pi-rốt đã tự kết liễu đời mình". Kết thúc cuộc hỏi cung lịch sử, một vị chỉ huy quân đội ta hỏi thẳng: "Không phá vòng vây sang Lào, nghĩa là các ông phải chịu thất thủ và phải đầu hàng, các ông biết điều đó từ khi nào?". Lúc này Đờ Cát thẳng thắn: "Khi các ngài cho nổ khối bộc phá lớn ở đồi A1, chúng tôi biết, giờ phút thất thủ đã đến".

Ông Tính cũng cho biết, việc xác minh các đối tượng trong Bộ Chỉ huy của địch cũng được triển khai với nhiều biện pháp nghiệp vụ khác nhau. Ví dụ như hỏi số hiệu sĩ quan, bắt họ ký vào nhiều văn bản để kiểm tra chữ ký, ảnh để đối chiếu với thẻ căn cước. Khi đã xác định đúng là Đờ Cát, toàn bộ Bộ Chỉ huy của Pháp ở Điện Biên Phủ đã được chuyển lên Bộ Chỉ huy chiến dịch của ta để tiếp tục khai thác thông tin.

Người lái xe chở tướng bại trận

Ông Hoàng Tư nay đã 95 tuổi, ở xóm 12, Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và minh mẫn. 18 tuổi, Hoàng Tư xung phong vào bộ đội, được biên chế vào Trung đoàn 57 (Trung đoàn Đội Cung), Nghệ Tĩnh. Sau thời gian chiến đấu ở Quảng Bình, ông được điều trở ra Nghệ Tĩnh. Năm 1950, ông được cử đi học lái xe ở Trung Quốc. Sau một năm đào tạo, ông được phân về công tác tại Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần với nhiệm vụ chở lương thực, đạn dược, thuốc men phục vụ chiến dịch Thượng Lào, Trung Lào. Chiến dịch Điện Biên Phủ nổ ra, ông được điều lên phục vụ vận tải cho chiến trường.
gznq_9b-1.JPG
Ông Hoàng Tư, chiến sĩ lái xe chở Đờ Cát về tuyến sau.

"Chuyến hàng" đêm 8-5-1954, khi chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng sẽ theo ông suốt cuộc đời. "Hôm đó, chúng tôi được lệnh chở tù binh Pháp về Tuyên Quang, gồm 150 tên, chủ yếu là quan tư, quan năm. Đặc biệt, trong đoàn tù binh được đưa về Tuyên Quang có tướng Đờ Cát. Xét tôi có tay lái vững, lại là đảng viên nên cấp trên đã phân công chở tướng Đờ Cát cùng 11 sỹ quan Pháp có 5 bộ đội của ta đi theo bảo vệ. Để đảm bảo cho "chuyến hàng" an toàn, đang ban đêm, xe cũng không dám bật đèn. Xe đi qua nhiều đoạn đường nguy hiểm, bọn tù binh ngồi sau thùng rúm ró lại vì sợ. Xe vượt qua đèo an toàn, Đờ Cát và mấy sỹ quan Pháp trầm trồ khen "lái xe Việt Minh giỏi" -  Ông Tư nhớ lại.

Người cựu binh gần 100 tuổi đời vẫn nhớ như in những gì đã diễn ra trên suốt chặng đường chở viên tướng bại trận của đội quân được xem là hùng mạnh bậc nhất thế giới thời bấy giờ: "Hồi đó, lương thực, thực phẩm thiếu thốn lắm. Tù binh Pháp cũng được chia bằng khẩu phần của bộ đội, kể cả tướng Đờ Cát. Khi đoàn xe đi tới đèo Pha Đin thì đã quá nửa đêm. Xuống chân đèo, đã thấy xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dừng ở đó". Đại tướng xuống xe, yêu cầu báo cáo tình hình và sức khỏe của các tù binh. Khi biết Đờ Cát bị kiết lị, Đại tướng yêu cầu bác sỹ của mình khám và cấp thuốc cho Đờ Cát. Đại tướng huấn thị: "Đây là công lao của bộ đội, là xương máu của nhân dân, các đồng chí phải hết sức cẩn thận". Sau 3 ngày 3 đêm, chúng tôi đến Tuyên Quang. Toàn bộ tù binh Pháp được bàn giao cho cấp trên. Nhiệm vụ chuyển tù binh của chúng tôi hoàn thành".

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hoàng Tư được chuyển sang Trung đoàn 106, Cục Công binh. Tháng 5-1958, sức khỏe giảm sút, ông được giải quyết cho ra quân. Về quê khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bắt đầu, Hoàng Tư tham gia vào các hoạt động sản xuất, chiến đấu và giữ nhiều vị trí chủ chốt tại địa phương cho đến khi được giải quyết nghỉ theo chế độ vào năm 1975. Hết chiến tranh, hết công việc bận rộn của người cán bộ, ông trở về làm bạn với ruộng vườn. Với 95 tuổi đời, 65 tuổi Đảng, trải qua 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, ông Hoàng Tư được Đảng, Nhà nước và quân đội tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Viết Lam