Thứ 7, 17/11/2018, 00:58 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Nhân quyền trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

03/09/2014 - 14:52

Biên phòng - Trong thời gian qua, các thế lực thù địch cố tình dựng lên cái gọi là "thực trạng vi phạm nhân quyền" ở Việt Nam để vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm nhân quyền. Không biết vô tình, hay họ không hiểu lịch sử. Không phải đến bây giờ chúng ta mới đề cập đến nhân quyền, mà ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề nhân quyền lên vị trí hàng đầu.

Mở đầu Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế rằng: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời nói bất hủ, mở đầu cho Tuyên ngôn độc lập không chỉ là tư tưởng lớn về độc lập, tự do của dân tộc, mà còn là tư tưởng cơ bản về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.

Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người luôn hòa quyện với nhau và luôn nhất quán trong toàn bộ cuộc đời và sự  nghiệp đấu tranh của Người. Con đường cách mạng mà Người đã chọn, cuộc cách mạng mà Người lãnh đạo, những chủ trương, chính sách mà Người đề ra và cả những việc làm rất cụ thể của Người, tất thảy đều nhằm bảo vệ con người.

Không phải ngẫu nhiên mà khi mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại câu mở đầu trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 và tiếp đó, Người còn nêu lên một câu nữa trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng hai câu kinh điển đó từ hai cuộc cách mạng tư sản của hai cường quốc lớn là Mỹ và Pháp như  một chân lý, không ai chối cãi được. Thông qua chân lý đó, Hồ Chủ tịch muốn khẳng định rằng, nhân dân Việt Nam hoàn toàn tán đồng và có chung ý tưởng với nhân loại về quyền bình đẳng, quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người; và lẽ dĩ nhiên, nhân dân Việt Nam cũng có những quyền đó như nhân dân Mỹ và nhân dân Pháp.

Bằng những hành động và việc làm cụ thể của Người trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn độc lập là sự phát triển của Bản yêu cầu mà Người đã gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, là sự phát triển  chương trình hành động của Việt Minh mà Người đã viết năm 1941. Đồng thời, đó cũng là sự kết tinh tất cả những quyền lợi cơ bản và nguyện vọng thiết tha nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền con người không thể tách rời quyền của dân tộc. Chính vì vậy mà Người đã đi từ khẳng định quyền con người đến quyền của dân tộc. "Tất cả các dân tộc trên thế giới, đều sinh ra có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".

Với cách suy luận biện chứng đó, quyền của mỗi con người là lẽ tự nhiên thì quyền của mỗi dân tộc cũng là lẽ tự nhiên. Từ đó, Người chứng minh rõ việc các thế lực đế quốc xâm lược, áp bức bóc lột dân tộc Việt Nam là trái với lẽ tự nhiên, là vi phạm trắng trợn quyền con người mà cách mạng tư sản Mỹ và cách mạng Pháp đã công nhận. Với việc nâng tầm quyền con người thành quyền dân tộc, không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa đối với nhiều dân tộc bị áp bức, bóc lột khác trên thế giới.

Đối với nước ta, khẳng định quyền bình đẳng giữa mọi người và mọi dân tộc là lẽ tự nhiên, là chân lý không thể nào phủ nhận được. Lôgic biện chứng của lập luận đó, về thực chất là Hồ Chí Minh đã đi đến một điều khẳng định lớn lao hơn; nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cũng hoàn toàn hợp với lẽ tự nhiên, không ai có thể phủ nhận được. Thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đó.

Quyền con người và quyền dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt Nam qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc trong đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt và chống kẻ thù xâm lược. Người đã từng khẳng định, dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì tinh thần đó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó lướt qua mọi thử thách gian nan, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước.

Trong các cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, mỗi người dân Việt Nam luôn hòa quyện với cộng đồng dân tộc, tìm thấy giá trị của mình trong giá trị chung của quê hương, đất nước. Mặt khác, cũng xuất phát từ thực tế Tổ quốc đang bị thực dân đô hộ gần một thể kỷ, nên mọi quyền lợi của nhân dân, của dân tộc cũng bị bọn đế quốc vùi dập.

Cho nên, giành lại quyền sống, quyền tự do độc lập, quyền làm người từ tay bọn đế quốc là mục tiêu chiến đấu của cả dân tộc Việt Nam. Và trên thực tế, Người đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên làm cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc trước toàn thể quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945 đã vĩnh viễn xóa bỏ mọi sự ràng buộc bất bình đẳng giữa Việt Nam với Pháp. "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Giữ vững lời thề độc lập, ngay sau khi cuộc mít tinh kết thúc, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì cuộc họp của Chính phủ, đề ra những nhiệm vụ cấp bách: Cứu đói, chống giặc dốt, xóa bỏ những thứ thuế bất hợp lý do thực dân Pháp áp đặt, ban hành những quyền tự do dân chủ cho nhân dân, chuẩn bị Tổng tuyển cử, thực hiện nam nữ bình đẳng, tự do tín ngưỡng, thực hiện nền giáo dục nhân dân...

Đó là những việc làm rất cụ thể của Người và Chính phủ ta nhằm thực hiện quyền con người. Đặc biệt, sự ra đời của bản Hiến pháp năm 1946, hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đánh đấu một bước tiến quan trọng về thực hiện dân chủ và quyền con người, quyền công dân trên một đất nước đã hơn 80 năm bị thực dân, phong kiến đô hộ, mọi quyền tự do dân chủ của con người và của dân tộc bị chà đạp.

Tiếp theo đó là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, kéo dài 30 năm cũng không ngoài mục đích tiếp tục bảo vệ những giá trị về quyền con người và quyền độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, đất nước đang trong quá trình đổi mới và phát triển, công nghiệp hóa,  hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, chính là sự kế tục và phát triển những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người của Đảng ta trong điều kiện mới.

Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, Đảng ta xác định: "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao".

Tôn trọng và bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta từ trước tới nay. Từ ngày thành lập nước đến nay, chúng ta đã tham gia đầy đủ các hoạt động bảo vệ nhân quyền do Liên hợp quốc và các Tổ chức quốc tế như: Tham gia ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em; chăm sóc bảo vệ người cao tuổi; tham gia tích cực các hoạt động chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ môi trường sinh thái, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc...

Trong không khí hào hùng của mùa Thu lịch sử, nhắc lại Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lần nữa để khẳng định rằng, vấn đề nhân quyền luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi đó là một chân lý không ai có thể thay đổi được.
PGS, TS Vũ Đăng Hiến