Thứ 3, 26/03/2019, 17:12 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015):

Nguyễn Du - Đại thi hào với những áng thơ bất hủ

07/12/2015 - 15:43

Biên phòng - Nhắc đến Đại thi hào Nguyễn Du người ta lại chợt nhớ đến Truyện Kiều. Truyện Kiều không chỉ được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục đông đảo mọi tầng lớp độc giả, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là nguồn cảm hứng sáng tác của các văn nghệ sĩ cho ra đời rất nhiều tác phẩm thi ca, nhạc họa, mà còn vượt qua mọi không gian, thời gian để trở thành Di sản văn hóa thế giới. Tuy nhiên, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du không chỉ có Truyện Kiều, di sản văn học của cụ còn rất đồ sộ với những áng thơ văn lấp lánh khác...

dwpk_19-1.jpg
Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tĩnh. Ảnh: Thanh Thuận

Kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Nguyễn Du là dịp để chúng ta nhìn lại con người và sự nghiệp văn chương vĩ đại mang tầm nhân loại của bậc Đại thi hào Nguyễn Du. Trong đó, Truyện Kiều - một tác phẩm toàn bích với "lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" được tôn vinh vào hàng bậc nhất. Bởi Truyện Kiều như một bảo tàng tiếng Việt kết tinh vẻ đẹp, bản sắc, trí tuệ, tinh thần văn hóa dân tộc, qua đó giáo dục cho thế hệ trẻ cảm thụ, hiểu sâu hơn những giá trị chân - thiện - mỹ mà cha ông để lại. Đây cũng là dịp để chúng ta quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới với một nền văn hóa lịch sử lâu đời rất đáng tự hào.

Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị và đến khi diễn ra các hoạt động kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du, chúng ta mới nhận ra có quá nhiều các hoạt động, hàng loạt các chương trình, hội nghị, hội thảo, xuất bản, ra mắt... xung quanh Truyện Kiều. Có lẽ, người ta đã "quên" rằng, ngoài kiệt tác Truyện Kiều, di sản văn học của Đại thi hào Nguyễn Du còn rất phong phú, đồ sộ với nhiều tác phẩm có giá trị được sáng tác bằng chữ Nôm, chữ Hán, có cả Ðường thi và lục bát dân tộc khi ông làm quan ở kinh thành, đi sứ hoặc thời kỳ luân lạc vì chiến tranh và lui về quê ở ẩn.

Hơn nửa thế kỷ sống trên cõi đời, Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một di sản thi ca đồ sộ với ba tập thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục); sáng tác chữ Nôm có: "Văn chiêu hồn" (nguyên có tên "Văn tế thập loại chúng sinh"), "Thác lời trai phường nón", "Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ". Trong đó, thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng là một thành tựu xuất sắc.

Với nhiều nhà thơ khác cùng thời, những sáng tác thường khuôn chiếu trong những đề tài ca tụng vương triều, tụng ca thánh đế, xướng họa, đề vịnh quen thuộc, nhưng thơ Nguyễn Du thì khác. Ông thậm chí tách mình khỏi đám đông ấy. Thơ ông bao quát một phạm vi hiện thực rộng lớn, mở rộng đề tài và phản ánh đa dạng số phận con người. Thi hào cảm thương cảnh ngộ ông lão đói nghèo, người gảy đàn ở thành Thăng Long, những người thường gặp chung quanh đến những nhân vật chìm khuất trong lịch sử, từ nỗi nhớ người thân đến biết bao cảnh đời trầm luân trên đường đi sứ Trung Hoa...

Trên tất cả là sự nhập thân, cảm thông sâu sắc của chính tấm lòng nhà thơ với mọi kiếp người. Mỗi tứ thơ, mỗi câu thơ của ông đều chan chứa nỗi niềm, bộc lộ tiếng nói cá nhân nghệ sĩ theo một cách nhìn riêng, một điểm nhìn khác biệt trước thực tại. Phải có một tâm hồn nghệ sĩ lớn, một năng lực sáng tạo phi thường và "con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời", "lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột" (lời Tiên Phong Mộng Liên Ðường) thì Nguyễn Du mới có được kiệt tác Truyện Kiều và những vần thơ chữ Hán chất nặng suy tư.

Mảng thơ chữ Hán được Nguyễn Du sáng tác xuyên suốt gần 30 năm đã khắc họa cuộc đời và tâm tư của một nhà thơ sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động. Trong suốt những năm tháng loạn lạc, trải qua quãng đời bể dâu, gió bụi cho đến những năm ra làm quan triều Nguyễn, thông qua "những điều trông thấy", thông qua tư tưởng nhân văn, nhân đạo và bút sắc tài hoa, Nguyễn Du đã sáng tác "Thanh Hiên thi tập". Bao trùm tập thơ là tâm trạng hoang mang, xót xa về thân phận, nỗi đau buồn của một con người bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời dâu bể: "Một nhánh cỏ bồng đứt gốc trước gió tây", "Người đã đến bước đường cùng"...

Tập thơ "Nam Trung tạp ngâm" cho thấy nỗi đau đời, thương đời tiếp tục theo đuổi ông trong những ngày ra làm quan. Với người khác, được làm quan là một dịp vinh thân và cơ may tiến thân, riêng với Nguyễn Du, ông ngại ngần và cảm nhận nhiều hơn ở phía mặt trái, những hệ lụy, ràng buộc: "Khá thương mình đầu bạc vẫn phải chịu để người sai khiến/ Không cùng với núi xanh giữ được thủy chung" (Vọng trông chùa Thiên Thai). Những bài thơ trong tập này cũng khẳng định, chính trong khoảng thời gian này, thi nhân bắt đầu có những nhận thức sâu sắc về bản chất xã hội đương thời.

Trong tập "Bắc hành tạp lục", bên cạnh mấy bài thơ viết về Thăng Long dâu bể, xót thương từ một kiếp ca nhi, một nàng hầu và biết bao người xưa cảnh cũ đã phai bạc dần theo năm tháng, còn lại tất thảy đều viết về chuyến đi sứ Trung Quốc kéo dài qua suốt một năm trời. Trong tư cách một vị Chánh sứ, Nguyễn Du cũng như bao người đi sứ khác thường nói đến nỗi nhớ nhà, tình cảnh nơi đất khách quê người, những cảnh trí lạ lùng mà lần đầu mình được gặp, được biết, thưởng ngoạn.

Song điều khác biệt là ông thường nhạy cảm quan sát, phản ánh cuộc sống những người dân lao động bình thường như: Ông cháu người hát rong ở Thái Bình, người kéo xe ở Hồ Nam; thôn, xóm bên trạm Tây Hà; thảm trạng đói rét và việc binh đao làm nghẽn đường... Đặc biệt, trước hình ảnh người mẹ với ba đứa con đói khổ đối lập với bữa tiệc phung phí của đám quan lại, một ý nghĩ bất chợt nảy sinh trong nhà thơ: "Ai vẽ bức tranh này - dâng lên nhà vua rõ" (Những điều trông thấy)...

Với số lượng bài lớn, đề tài phong phú, tập "Bắc hành tạp lục" được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là tập thơ kết tinh các giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du. Bài thơ "Long thành cầm giả ca" (Bài ca người gảy đàn ở Long thành) là một điển hình về nỗi thương đời, thương mình. Với những câu thơ tài hoa, Nguyễn Du khắc họa rõ nét những đổi thay của cả một thời kỳ lịch sử và một đời người, bày tỏ nỗi thương đời và thương mình đến xót xa: "Khúc xưa giọng mới lệ rơi/ Lắng nghe dạ những bùi ngùi xót xa/ Hai mươi năm bỗng ta hồi nhớ/ Tiệc Giám hồ gặp gỡ hoa khôi/ Người xưa thành cũ suy đồi/ Bể dâu, dâu bể nổi trôi vô thường/ Tan tành hết Tây Sơn vương nghiệp/ Chỉ còn đây một kiếp cầm ca/ Trăm năm nào có bao xa!/ Đau lòng chuyện cũ lệ ta tuôn trào".

Nguyễn Du qua Truyện Kiều và nhiều tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm đã đến với nhân dân trong bầu tâm sự đầy cảm thông sâu sắc. Ẩn sâu bên trong ngôn ngữ của Danh nhân văn hóa thế giới là khát vọng mạnh mẽ của một nhân cách lớn được kiến tạo bởi các yếu tố tài năng thiên bẩm, sóng gió cuộc đời và thời cuộc. Và bởi vậy, với hậu sinh, Nguyễn Du luôn là bậc hiền sĩ, ngọn đuốc sáng rực rỡ của thi ca Việt Nam.

Sinh thời Nguyễn Du từng viết: "Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như" (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như). Thật đáng kinh ngạc và nể phục, bởi dù chưa đến 300 năm sau như Nguyễn Du từng đề cập, nhưng với những gì mà thế giới và các thế hệ người Việt đang làm, thì chắc hẳn tới nghìn năm sau, Nguyễn Du vẫn sống mãi trong lòng hậu thế.

Thanh Thuận
Liên kết hữu ích