Thứ 5, 27/02/2020, 11:35 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Nguy cơ "dân tộc lửng" - sự mai một văn hóa

06/05/2017 - 15:56

Biên phòng - Đó là nhận định của ông Mai Thanh Sợi, dân tộc Tày, Bí thư Chi bộ thôn bản Rịa, xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, Lào Cai. Ông là một trong 120 đại biểu tham dự cuộc gặp mặt các già làng, trưởng thôn, bản, nghệ nhân, người uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, xã đặc biệt khó khăn khu vực phía Bắc - một hoạt động thường niên của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức vào trung tuần tháng 4 vừa qua.

3jf6_21a
Nghệ nhân Lò Văn Biến. Ảnh: Thụy Văn

Phát biểu của ông Mai Thanh Sợi nói rõ, trong thời kỳ hội nhập, văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều nguy cơ mai một, thậm chí là mất hẳn, nhiều người trẻ tuổi không hiểu biết chính văn hóa dân tộc mình. "Tinh hoa văn hóa với sự kế thừa yếu ớt và không đầy đủ dẫn đến lai căng, mất gốc. Mất đi văn hóa sẽ dẫn tới sự ra đời của một "dân tộc lửng", không phải dân tộc đúng với bản sắc văn hóa như nguyên gốc, không biết phải xếp vào thành phần nào cho đúng" - Ông Mai Thanh Sơn khẳng định. Trong hơn 20 năm qua, ông Mai Thanh Sợi đã tiến hành sưu tầm, lưu giữ lại nhiều giá trị văn hóa độc đáo của người Tày ở vùng Nghĩa Đô thành 12 chuyên đề riêng biệt như hát ru, ca dao, tục ngữ… Lo ngại của ông là chính đáng, bởi nhận định này đã được đúc rút từ chính công trình khảo cứu kéo dài nhiều năm của riêng mình.

Nghệ nhân Lò Văn Biến, ở bản Cang Nà, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái là người đã dành cả đời nghiên cứu, lưu giữ và truyền dạy văn hóa cho các thế hệ đồng bào dân tộc Thái. Ông được coi là "pho sử sống", có công lớn trong việc gìn giữ, truyền dạy múa xòe, cũng như xây dựng hồ sơ đề nghị đưa múa xòe ở Mường Lò thành di sản văn hóa phi vật thể. Ông là minh chứng cho nhận định của nhiều chuyên gia văn hóa rằng, không có gì chính xác và phù hợp hơn là chính những người cao tuổi có uy tín trong cộng đồng các dân tộc tự thực hiện các công trình nghiên cứu lưu giữ và sưu tầm văn hóa cho dân tộc mình. Họ có niềm say mê tự thân, tự nguyện, cùng nỗi đau đáu với sứ mệnh truyền dạy, lưu giữ vốn cổ của cha ông. Ông Lò Văn Biến thể hiện quan điểm của mình về bảo tồn văn hóa: "Văn hóa truyền thống là vốn quý nhà mình, phải giữ đã chứ! Mình coi trọng, cả cộng đồng xã hội sẽ không dám coi thường".

Không phải bây giờ hiện tượng biến cải theo chiều hướng tiêu cực về văn hóa của các dân tộc mới được nhắc tới. Người dân tộc Sán Dìu tại vùng Vĩnh Phúc có một khái niệm chung gọi những người Sán Dìu sinh sống ở thành thị, bị "phổ thông hóa" không biết viết chữ, nói tiếng dân tộc mình, không còn mặc trang phục dân tộc, lược bỏ phần lớn phong tục tập quán đặc trưng trong đời sống là "Sán Dìu tẻ", và gọi những gia tộc, những người còn giữ được văn hóa truyền thống là "Sán Dìu nếp". Như vậy, trong chính cộng đồng các dân tộc thiểu số, họ ý thức được nguy cơ bị lai căng, bị phai nhạt màu sắc văn hóa. Nhưng đứng trước thời đại rút ngắn dần khoảng cách không gian và được cung cấp đầy đủ thông tin thì sự hòa nhập và trộn lẫn hoặc bị thôn tính bởi các hình thái văn hóa mạnh hơn là lẽ tất yếu.

Thực tế cho thấy, nếu có nhiều dân tộc cùng sinh sống trong một khu vực, dân tộc có màu sắc văn hóa mạnh hơn sẽ chiếm vị trí trung tâm, khiến các dân tộc khác "lép vế", dần bị ảnh hưởng và về lâu dài ranh giới riêng biệt không còn nữa. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện có chiều hướng nâng đỡ và biệt đãi các dân tộc ít người. Những cộng đồng này nếu không được chăm lo thì dân số ngày càng ít dần đi và đương nhiên đến những nhu cầu tối thiểu không được thỏa mãn thì vốn văn hóa ít ỏi còn lại rất dễ bị diệt vong.

adme_21c
Phụ nữ dân tộc Mông mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình. Ảnh: CTV

Không ai khác, chính những người già có uy tín trong mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số có thể hồi phục và cải thiện, chỉnh đốn lại chiều hướng mai một văn hóa. Trong một gia đình, người già truyền dạy chữ viết và tiếng nói, các bà mẹ truyền cho con gái nếp nhà, nữ công gia chánh, thêu thùa, dệt may quần áo. Các thầy cúng truyền dạy luật làng, lễ tiết với tổ tiên, các bài cúng, các phong tục, các bài hát, điệu múa và các yếu tố tinh thần, tâm linh… Như vậy, trong không gian văn hóa làng bản, yếu tố văn hóa không thể bị mai một nếu như có một vòng tròn khép kín tiếp nối giữa nhiều thế hệ, bắt đầu từ gia đình, dòng họ, tới các cộng đồng lớn, vùng dân tộc.

Các thanh niên người dân tộc thiểu số hiện nay có sự hòa nhập rất nhanh với các yếu tố văn hóa lạ và mới. Họ rời không gian văn hóa làng, bản để đi học, đi làm ở các vùng dân cư, xen lẫn các dân tộc khác nên yếu tố văn hóa nguyên gốc bị nén lại, giấu đi. Nếu không được chỉ dạy và truyền lại, chỉ vài thế hệ nữa, nhiều dân tộc thiểu số hiện nay sẽ phai nhạt cơ bản yếu tố văn hóa gốc của dân tộc mình. Sự kết hôn giữa các cá nhân khác dân tộc, cư trú xen kẽ cũng góp phần làm ẩn sâu gốc văn hóa dẫn tới mất hẳn. Nguy cơ ra đời "dân tộc lửng" có thể còn dẫn tới kiểu, loại dân tộc thế hệ thứ 2, thứ 3 nhạt màu và không giống bất cứ dân tộc nào.

Thụy Văn