Thứ 7, 22/02/2020, 01:16 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Người La Chí và tục cúng thịt chuột

20/02/2014 - 15:49

Biên phòng - Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy khẳng định, người La Chí định cư ở vùng Hoàng Su Phì và Xín Mần của Hà Giang rất lâu. Ngay cả người Cờ Lao và người Nùng, di cư đến vùng Hoàng Su Phì cách nay 170 năm đã thấy người La Chí. Còn nhà nghiên cứu nổi tiếng người Pháp Anbadie, trong cuốn "Các chủng tộc ở vùng cao Bắc kỳ từ Phong Thổ đến Lạng Sơn", viết năm 1924, khẳng định: "Người La Chí là cư dân bản địa, thổ dân ở vùng Hoàng Su Phì và Xín Mần đã từ mấy ngàn năm nay…". Trong văn hóa tộc người, thông thường, những con vật linh thiêng phải là rồng, phượng, rùa, chim, hoặc ít ra cũng là gấu, báo, hổ, sư tử… Nhưng, với người La Chí, một dân tộc thiểu số sống duy nhất ở Hà Giang thì con chuột bé nhỏ mới được coi là linh vật của họ.

7ea2_21a-1.jpg
Đặc sản thịt chuột của người La Chí.
Mâm lễ chuột và tục thờ Thần Rắn

Con đường mới trải nhựa vắt qua những thửa ruộng bậc thang dài hơn 30km đưa chúng tôi đến xã Bản Phùng (Hoàng Su Phì, Hà Giang). Đứng ở trung tâm xã, nhìn lên đỉnh Lủng Cẩu tưởng như đó là mảnh đất của Trời. Người La Chí có truyền thuyết kể rằng, đỉnh Lủng Cẩu là nơi vua Gia Long (ông vua của người La Chí, chứ không phải vua Gia Long thời Nguyễn) ở và đó cũng là đường lên Trời. Các tiên nữ thường trốn nhà Trời xuống hạ giới qua đỉnh Lủng Cẩu vui đùa với vua. Huyền thoại thì chỉ là huyền thoại, nhưng sự thực thì đường lên bản Lủng Cẩu đúng là đường lên Trời.

Với sự dẫn đường của Chủ tịch xã Vương Đức Sinh, chúng tôi cuốc bộ liên tục 2 giờ đồng hồ mới tới điểm trường Lủng Cẩu. Sau điểm trường Lủng Cẩu là khu rừng cấm linh thiêng rộng mênh mông của người La Chí. Đầu rừng cấm có ngôi nhà thờ đơn sơ, với những chiếc sọ trâu trắng lốp gác trên mái. Mỗi năm dân bản cúng rừng ở nhà thờ một lần và thịt một con trâu để tế Thần Rừng.

Đi hơn hai ngàn bước, chân mỏi rã rời, mới đến lõi rừng cấm, nơi đó có ngôi miếu thiêng thờ các vị thần như ông tổ Hoàng Vần Thùng, vua Gia Long, Thần Rắn. Các vị thần này ngự trong miếu và được gọi chung là Thần Rừng. Nhiệm vụ của Thần Rừng là bảo hộ cuộc sống đồng bào, cho đất sản xuất, cho trời mưa xuống để cây lúa tốt tươi, cho sấm sét không đánh chết người. Hằng năm, dân bản phải làm lễ cúng rừng, hiến tế lễ vật và thực hiện lời hứa bảo vệ rừng.

Người La Chí có 3 loại lễ cúng rừng. Lễ cúng tại nhà thờ ở cửa rừng mỗi năm diễn ra một lần với lễ vật hiến tế chính là trâu, lễ phụ là thịt chuột. Lễ cúng ở miếu thờ trong lõi rừng cấm thì 15 năm mới tổ chức một lần. Vì đây là lễ cúng ông tổ Hoàng Vần Thùng, nên phải cúng bò, vì ông chỉ thích ăn thịt bò. Riêng lễ cúng Thần Rắn thì đều đặn tổ chức sau 13 năm. Thần Rắn vốn thích ăn chuột, nên lễ vật chính đương nhiên phải là... chuột.

Người La Chí có truyền thuyết về Thần Rắn rất ấn tượng. Chuyện rằng, ngày xưa, có một cụ già râu tóc bạc phơ, sau nhiều ngày dạo chơi qua các bản làng thì đi vào rừng, chết luôn tại đấy và biến thành hai con rắn. Khu rừng đó được gọi là rừng Me Meo, chính là rừng cấm trên núi Lủng Cẩu bây giờ. Trong bản có một anh, đã 9 đời nghèo đói, cho dù anh cũng như tổ tiên mình đều làm việc rất chăm chỉ. Để hỏi xem vì sao cuộc đời mình cứ nghèo mãi, anh liền đi tìm thầy mo. Khi qua rừng Me Meo, anh gặp hai con rắn. Biết anh đi tìm thầy mo, liền nhờ: "Ngày trước, tôi đi đâu cũng được, bay cũng được, thế mà giờ không tài nào làm được gì để kiếm ăn. Anh hỏi hộ xem vì sao lại thế?".

Gặp thầy mo, kể lại sự tình của mình và hai con rắn trong rừng Me Meo, thầy mo liền bảo: "Trước đây, con rắn biết bay, nhưng giờ không bay được, cũng không đi được là vì hai bên mép của chúng có hai cái răng vàng. Nhổ đi sẽ trở lại như cũ. Nhưng nếu nhổ răng rắn thì cỏ cây sẽ khô héo, ngô lúa cũng chết hết. Còn việc anh nghèo hay giàu thì tùy ở cách ứng xử và lòng tốt của anh". Thầy mo chỉ nói có vậy rồi biến mất.

Đi về qua rừng Me Meo, gặp hai con rắn, rắn hỏi: "Tình hình thế nào?". Anh kể lại y nguyên. Nhưng anh không nhổ răng vàng cho rắn, vì làm như vậy, bản làng anh sẽ chết đói. Rắn van xin: "Nếu anh không giúp chúng ta thì chúng ta đành phải chết đói, chết khát ở khu rừng này mất thôi". Nghe hai con rắn than thở, anh nhà nghèo động lòng thương liền nhổ răng cho rắn. Để tỏ lòng biết ơn, hai con rắn đã tặng anh nhà nghèo 4 chiếc răng vàng và dặn rằng, chiếc răng vàng này sẽ giúp nhân dân được no ấm, nhưng bà con phải bảo vệ rừng Me Meo. Anh mang răng vàng về nhà, bỗng nhiên nương lúa trong bản tốt tươi, trâu bò đông đúc. Anh cũng trở nên giàu có. Từ đó, 13 năm một lần, người La Chí lại vào rừng cúng Thần Rắn.

Trong một tài liệu khá hiếm hoi nghiên cứu về văn hóa La Chí có tên "Văn hóa truyền thống của người La Chí", nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy viết về lễ cúng Thần Rắn: "Có tới 8 thầy mo điều khiển nghi lễ. Họ được gọi là các Pô mìa nhu. Các Pô mìa nhu được phân thành hai nhóm, gồm nhóm họ Ly, họ Tận và nhóm họ Vàng, họ Lùng. Mỗi nhóm gồm 4 ông Pô mìa nhu. Đứng đầu mỗi nhóm là Pô mìa nha. Ông này được coi là gốc cúng của mỗi nhóm. Người La Chí tin rằng, mỗi Pô mìa nhu trông giữ một loại ma khác nhau. Ma được Pô mìa nhu nhốt trong hũ rượu. Mỗi năm Pô mìa nhu thay rượu trong hũ một lần. Ma của Pô mìa nha và Pô mìa mố là một loài rắn. Người La Chí rất sợ đi phía trước hoặc phía sau của những ông thầy mo này vì sợ rắn mổ".

Trong ngày lễ cúng Thần Rắn, đồng bào tụ tập quanh sàn cúng, được dựng giữa rừng, trước miếu thờ. Các thầy mo ngồi trên sàn cúng và thực hiện lễ cúng. Trước mặt các thầy mo là 2 mâm lễ. Một mâm toàn thịt chuột, với rất nhiều món đã được chế biến sẵn, như chuột hấp, chuột hầm, chuột xào mầm thảo quả. Nhiều nhất là các món chuột khô, chuột nướng. Một thứ không thể thiếu, đó là bát... tiết canh chuột! Ngoài ra, còn 13 con chuột sống, đủ các loại to nhỏ, bị buộc vào dây và cột vào cọc trước sàn cúng. Mâm lễ thứ hai để cúng các vị thần khác ngự trong rừng, gồm chủ yếu là các món liên quan đến cá, thịt.

Lễ cúng Thần Rắn với mâm thịt chuột diễn ra suốt 2 ngày, trong không khí cực kỳ trang nghiêm. Không ai cười đùa, cợt nhả. Tất cả đều hướng tâm trí về Thần Rắn và các vị thần cai quản khu rừng với sự thành kính sâu sắc. Thầy mo úp mặt xuống sàn và nói: "Ơ Thần Rắn linh thiêng! Hôm nay, dân bản làm lễ cúng các thần cai quản rừng thiêng... Thần Rắn ngự ở trong rừng đã phù hộ cho đất nước, cho dân bản được mùa, cho ngô lúa tốt tươi, cho cuộc sống no ấm. Sắp tới, Thần Rắn tiếp tục cho nước tưới tiêu, cho đất sản xuất, cho cây cối tốt tươi, không gây lũ lụt, sấm sét không đánh chết người, lợn đẻ nhiều như lợn rừng, trâu đông như dê núi...". Sau hai ngày cúng bái, hai ông Pô mìa nha (thầy cúng) thay mặt dân bản thề với Thần Rắn rằng, người La Chí sẽ không xâm phạm đến rừng cấm. Họ tin rằng, linh hồn tổ tiên mình đều đã về rừng cấm, ngự trên những cây đa và nghị sự với Thần Rắn, đang tìm cách phù hộ cho đất nước, cho bản làng, cho gia đình. Cũng chính vì niềm tin như thế, nên họ cực kỳ tôn trọng rừng cấm. Họ không bao giờ tự tiện bước chân vào rừng cấm, chứ đừng nói đến chuyện lấy một cành củi, một cây măng.

Buổi tối cuối cùng của lễ cúng Thần Rắn, các gia đình cùng ăn uống trong rừng, vui chơi, chúc rượu nhau. Tan lễ cúng, mỗi người một ngả về nhà, không ai mang bất cứ thứ gì của rừng về. Mâm lễ thịt chuột cũng được để lại trong rừng để Thần Rắn hưởng. Sau lễ cúng, rừng cấm lại biến thành chốn cực kỳ thâm nghiêm. Mọi cám dỗ vật chất cũng không lay động được niềm tin của họ vào những vị thần ngự trị trong rừng. Ai xâm phạm rừng cấm, dù không bị thần linh quở phạt, cũng sẽ bị dân bản xử phạt rất nghiêm.

Đặc sản của Bản Phùng

Con chuột ngoài vai trò là vật hiến tế trong lễ cúng Thần Rắn trong rừng cấm Me Meo, thì nó còn giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống thực tại cũng như đời sống tâm linh của người La Chí. Trong bất cứ lễ cúng gì, từ cúng tổ tiên, cúng lúa mới, cúng xuống đồng, cúng hồn cây lúa, cúng rừng, cúng núi, cúng sông suối, hoặc lễ cúng bắt ma, lập bàn thờ, thậm chí cả lễ cưới, món thịt chuột đều là thứ không thể thiếu được. Con chuột không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, mà nó còn gắn chặt với đời sống thường ngày của người La Chí. Món thịt chuột được người La Chí coi là món ăn hằng ngày, như người Kinh ăn thịt lợn, nên họ có thể ăn quanh năm suốt tháng.

Con chuột gắn bó với người La Chí từ hàng ngàn năm nay, nên không biết từ khi nào, chuột đã trở thành đặc sản. Nếu bạn lên Hoàng Su Phì, hỏi về các món đặc sản, ngoài thắng cố, rượu ngô của người Mông, lợn cắp nách của người Mán, thịt chua của người Nùng, thì chuột khô chính là đặc sản của người La Chí.

Món chuột được đồng bào La Chí chế biến thành hàng chục món khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là 2 món, gồm nướng và treo gác bếp. Chuột được nhúng nước sôi, vặt lông, dùng que xiên từ đít lên đầu đem thui với rơm nếp cho vàng ruộm, rồi mổ bụng, lột bỏ nội tạng, rửa sạch, sau đó xát mắm, muối, mì chính, thảo quả, tiêu rừng cùng một số gia vị khác. Nếu ăn nướng thì kẹp que nướng trên than củi ở bếp giữa nhà cho chín, rồi ăn luôn. Vào mùa thu hoạch lúa, chuột bắt được nhiều, ăn không xuể thì đồng bào La Chí làm món chuột khô để ăn dần.

Chuột được chế biến và ướp gia vị rồi treo trên gác bếp. Lửa và khói ở bếp cháy suốt ngày đêm sẽ làm cho thịt chuột khô quắt lại sau một tuần. Khi chuột quắt lại, cứng như khúc củi, có thể để được cả năm trời, lúc nào thích thì gỡ ra ăn. Thịt chuột khô có thể vùi tro nóng rồi dùng chày đập xơ ra chấm muối tiêu làm đồ nhắm rượu, hoặc đem ngâm nước sôi cho nở ra, sau đó ướp gừng, hành tỏi và xào nóng, rất thơm ngon. Đây là món khoái khẩu của người La Chí.

Ngồi bên bếp lửa hồng, giữa cảnh núi rừng hoang rậm, ăn thịt chuột và uống rượu bằng sừng trâu có cảm giác rất thi vị, gợi về một thuở hồng hoang.
Phạm Ngọc
502 Bad Gateway

502 Bad Gateway


nginx