Thứ 7, 01/10/2016, 10:06 (GMT+7) Đường dây nóng : (04) 39364407(116) - 091.2011.882

Nghĩ về vị Đại tướng huyền thoại

11/10/2013 - 15:23

Biên Phòng - Chuyện kể về Đại tướng thì nhiều, nhưng tôi chỉ muốn nói đến những gì đã đọc qua những tập hồi ký mà nhà văn Hữu Mai viết, như những cuốn: "Điện Biên Phủ" (năm 1964); "Từ nhân dân mà ra" (năm 1966); "Những năm tháng không thể nào quên" (năm 1970); "Chiến đấu trong vòng vây" (năm 1995); "Đường tới Điện Biên Phủ" (năm 1999); "Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử" (năm 2000). Cuốn sách "Không phải huyền thoại" của nhà văn Hữu Mai là tiểu thuyết lịch sử đầu tiên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

 9018a.gif
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng cán bộ chỉ huy họp bàn kế hoạch tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Ảnh: Tư Liệu

Sau lần được gặp Hồ Chủ tịch trên một con thuyền ở Thúy Hồ, Côn Minh, Trung Quốc (năm 1940), Võ Nguyên Giáp luôn được vinh dự làm việc và sống bên cạnh Bác Hồ, được Bác dìu dắt ngay trong những ngày đầu xây dựng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Để rồi, ông đã trở thành Đại tướng, Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân với hàng chục nghìn chiến sĩ và đã lập nên những chiến công hiển hách, có tầm cỡ chiến lược toàn cầu.

Chiều ngày 28-5-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tổ chức trọng thể lễ phong quân hàm cho vị Đại tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam. Đây là hai câu khẩu hiệu trong buổi lễ phong quân hàm này: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi"; "Thống nhất độc lập nhất định thành công". Hôm ấy, Bác Hồ nói: "Các cụ ta qua bao thế hệ chiến đấu cho độc lập mà không thành, nhắm mắt mà chưa thấy được dân tộc tự do. Chúng ta may mắn hơn, nhưng còn phải bao nhiêu hy sinh cố gắng. Hôm nay, việc phong Tướng cho chú Giáp là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí, chúng ta phải quyết giành được độc lập, tự do để thỏa lòng những người đã mất".

Bác Hồ cũng nói: "Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác trao cho chú hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho". Để rồi, từ đoàn quân 34 chiến sĩ của Đội tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944, tại khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám (Cao Bằng), với ba tiểu đội, Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm Đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm Chính trị viên; Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng, tức Văn Tiên, làm quản lý. Vũ khí ban đầu có 2 súng ngắn 10, 17 súng trường, 14 súng kíp. Đại tướng đã xây dựng nên một quân đội tinh nhuệ, đầy dũng khí, sẵn sàng xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Năm 1946, khi nhận thấy thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, Bác Hồ đã có lần hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

- Chú Giáp này. Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc, theo chú thì Thủ đô Hà Nội mình có thể giữ được bao lâu?.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tin trả lời:

- Thưa Bác, có thể giữ được một tháng ạ!

Để rồi khi cuộc chiến bùng nổ, Hà Nội được "tử thủ" hơn hai tháng, trước khi Chính phủ ta bí mật rút lên "Thủ đô Gió Ngàn".

Ông cũng đã từng viết trong hồi ký về chiến dịch Thu Đông năm 1947, khi chưa được Bác Hồ phong Đại tướng: "Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê...". Và khi ta đánh Đông Khê, quân Pháp từ Cao Bằng, Lạng Sơn kéo sang cứu viện đều bị đánh bại. Hai binh đoàn Lơ Pa-gờ và Sác-tông bị tiêu diệt hoàn toàn. Toàn bộ tuyến biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập được giải phóng. Cánh cửa nối nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa được mở ra, góp phần không nhỏ vào chiến thắng Điện Biên Phủ.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã có một quyết định cực kỳ quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, từ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" chuyển sang "đánh chắc, tiến chắc". Ông đã kết luận: "Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là đánh chắc thắng, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới". Ông cũng đã ghi lại trong sổ tay của mình: "Ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình!".

Rồi chiến thắng vang dội của QĐND Việt Nam trước cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của quân đội Mỹ vào Hà Nội. Một trận "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12-1972, Đại tướng đã chỉ thị các đơn vị phòng không ở Hà Nội: "Cả nước đang hướng về Hà Nội. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội".

Để rồi, trong 12 ngày đêm, pháo đài bay của không lực Mỹ đã nằm dưới ao làng hoa Ngọc Hà. Trong 12 ngày đêm, từ 18-12-1972 đến 29-12-1972, quân dân Hà Nội đã lập một kỳ tích lịch sử: Bắn rơi 23 máy bay B52, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Dư luận thế giới cho đây là một "Điện Biên Phủ trên không" tại Hà Nội. Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ ngày 30-12-1972, đến việc ký kết 4 bên về "chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam" tại Pa-ri, ngày 27-1-1973.

Gần cuối cuộc kháng chiến thứ hai, trong đời cầm quân của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh đi bức điện gửi các đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, vào sáng 7-4-1975: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!".

Khi nhà báo Pháp Đa-ni-en Rút-xen phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông trả lời: "Na-va là một tướng có tài. Thua trận ở Điện Biên, ở Đông Dương không phải là lỗi của ông ta, mà là lỗi của những người bắt đầu cuộc chiến". Rồi khi cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra sang thăm Việt Nam năm 1995. Mắc Na-ma-ra đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ hỏi về chiến tranh Việt Nam. Đại tướng đã trả lời: "Chúng tôi biết là chúng tôi sẽ thắng ngay từ ngày đầu tiên", hay "Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự của chúng tôi". 

Sau hai chiến thắng lịch sử này, nhiều báo chí phương Tây ca ngợi ông là "vị tướng thần thoại". Đại tướng bảo: "Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các báo chí bảo tôi là "Vị tướng thần thoại", nhưng tôi tự nghĩ, tôi bình đẳng với những người lính của mình". Rồi Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bảo "hạnh phúc lớn nhất của người cầm quân là được ở bên chiến sĩ trên chiến trường". "Dĩ công vi thượng, suốt đời vì nước vì dân, không mảy may có chút suy nghĩ nào khác, là đạo đức cao cả nhất của người cách mạng". Câu nói của Bác Hồ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn là động lực để ông phấn đấu và làm theo đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Cũng rất nhiều báo chí nước ngoài, những người cầm bút đã từng có nhận xét về ông, trong đó có bài xã luận của tờ El moudjahd, xuất bản tại An-gơ, ngày 4-1-1976: "Một người có dáng vẻ rất giản dị. Một bộ mặt cởi mở, còn hơn một người anh hùng. Tướng Giáp, ông là một chiến sĩ mà người ta sẽ kể về những chiến công của ông từ thế hệ này qua thế hệ khác". Rồi tôi cũng được đọc lời nhận xét của một nữ ký giả phương Tây, bà Ô-ri-an Pha-la-ci: "Tướng Giáp có một cặp mắt, đó là cặp mắt thông minh nhất mà tôi từng thấy".

Đâu đấy, một nụ cười, mà trong nhật ký Đại tướng gọi là "nụ cười Bác Hồ cho" vẫn nồng ấm. Nghe kể cũng xuất phát từ câu hỏi của Bác Hồ ở Bắc Bộ phủ: "Nhìn mặt chú Giáp cứ như chú giận ai?". Từ đấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn cười. Mái tóc trắng như mây vẫn bay đâu đây.

Nguyễn Quang