Thứ 5, 29/09/2016, 03:24 (GMT+7) Đường dây nóng : (04) 39364407(116) - 091.2011.882

Lao đao phận nữ đốt than

14/11/2012 - 8:55

Biên Phòng - Lâu nay, đốt than trở thành “nghề cứu cánh” đối với phụ nữ thôn Khe Xong (thị trấn Krông Klang, huyện Đắkrông, tỉnh Quảng Trị). Những viên than đen thu về sau chuỗi ngày băng bổ chốn núi rừng thấm mồ hôi, nước mắt của phận má hồng.

 84310a.gif
Sau những giờ lao động vất vả, thành quả lao động của chị em là những viên than đen nhánh.
Đổi than đen lấy gạo trắng

“Hầu như nhà nào ở bản mình cũng mua nợ gạo ở quán, sau đó mới vào rừng đốt than để trả. Một bao gạo tính bằng 10 bao than. Làm cật lực trong vòng 10 ngày, mình mới có một bao gạo đấy” – Tâm sự của chị Hồ Thị Minh bắt đầu câu chuyện về những người phụ nữ làm nghề đốt than ở thôn Khe Xong (thị trấn Krông Klang, huyện Đắkrông, tỉnh Quảng Trị). Gần 20 năm nay, phần lớn phụ nữ nơi đây gắn bó với nghề cùng khổ này để đổi lấy bữa cơm cho gia đình.

Thôn Khe Xong có 159 nóc nhà bao gồm 675 nhân khẩu. Khí hậu vùng núi khắc nghiệt, đất canh tác hẹp lại cằn cỗi... khiến người dân nơi đây quanh năm đối mặt với nỗi lo cơm áo. Gần 20 năm nay, “phong trào” theo nghề đốt than để kiếm kế sinh nhai rộ lên ở bản. Phần đông dân làm nghề này là chị em phụ nữ. Bà Pỉ Vỉ giải thích: “Đàn ông, con trai ở bản mình đi làm thuê để kiếm tiền. Phụ nữ thì chẳng có ai thuê nên phải vào rừng đốt củi lấy than thôi. Khó khăn nhưng không làm thì đói”.

Ban ngày, thôn Khe Xong toàn người già và trẻ em. Hiếm hoi lắm chúng tôi mới gặp một, hai phụ nữ. Chỉ đau ốm hay có việc quan trọng, họ mới bó gối nằm nhà. Chị Hồ Thị Thuỷ tâm sự: “Hôm nay, chồng ốm nên em mới ở nhà thế này. Mấy chị em trong bản vào rừng đốt than từ mờ sáng đến tận chiều tối mới về”...

Khi những vệt nắng cuối ngày rải xuống, những người phụ nữ thôn Khe Xong vội vã từ nơi đốt than trở về. Sau một ngày bươn bả núi rừng, thân thể các chị dường như khô đét lại, áo quần nhuốm màu than... Thế nhưng, chẳng ai hé răng van vỉ một lời. Họ vừa mệt, vừa vội về nhà đến nỗi ríu cả bước chân. Tâm trí ai cũng hướng đến mấy đứa con nhỏ suốt ngày ở nhà ngóng mẹ.

Mỗi người phụ nữ làm nghề đốt than có một hoàn cảnh riêng, song, họ cùng có một điểm chung là... khổ. Chị Hồ Thị Tư năm nay 36 tuổi. Chồng mất đã được 4 năm, mái tranh của mẹ con chị run rẩy từng cơn trước cái đói. Thương các con bữa đói, bữa no, chị quyết định gia nhập “đội quân” làm nghề đốt than.

Người thiếu phụ trẻ chảy nước mắt, bộc bạch: “Cực chẳng đã anh ơi! Em biết làm nghề này là phá rừng, là trái pháp luật. Nhưng không vào rừng đốt than thì lấy gì mà ăn?”. Nói rồi, chị đưa đôi bàn tay chai sần, chằng chịt vết sẹo như minh chứng cho nỗi khổ ải. Gia cảnh bà Hồ Thị Kừm cũng chẳng sáng sủa hơn. Vợ chồng bà có 6 người con thì 3 đứa bị mù lòa.

Trong ngôi nhà sàn trống lộng, bà vừa khơi bếp than hồng vừa âu sầu nói: “Nhà mình có 3 đứa mù đang tuổi ăn, tuổi học. Vợ chồng mình phải thay nhau vào rừng đốt than để kiếm tiền cho chúng ăn học”. Ở xã, thâm niên làm nghề đốt than của bà Hồ Thị Xá thuộc hàng kỳ cựu. Đã 56 tuổi, nhưng bước chân của bà vẫn rất bền bỉ. Bà cho biết: “Mình làm nghề này hơn 20 năm rồi. Ngày chồng chết, con còn bé như bắp chuối, mình vào rừng đốt than để lấy tiền nuôi nó. Giờ con lớn rồi, mình vẫn làm nghề này để tự lo cho cái thân”.

Hoàn cảnh buộc những phận má hồng gắn bó với nghề đốt than. Các chị đều hiểu câu: “Tham của rừng, rưng rưng nước mắt”, song, họ vẫn phải “tham” vì nỗi lo cơm áo.

 93710b.gif
Chị Hồ Thị Tư phải làm nghề đốt than để lo miếng cơm, manh áo cho 4 đứa con mồ côi cha. Ảnh: Tây Long
Phận đời nhuốm màu than

Khi chúng tôi xin cùng vào rừng đốt than, các chị lắc đầu nguây nguẩy: “Không được! Không được đâu! Chú làm sao có thể cuốc bộ, băng rừng cả chục cây số? Lắm chuyện xảy ra không lường trước được đâu. Nào là lạc đường, bị thú dữ tấn công, cháy rừng... thậm chí gặp kiểm lâm. Khổ lắm!”.

Từ mờ sáng, phụ nữ thôn Khe Xong đã lục đục dậy. Họ chuẩn bị miếng cơm, ấm nước cho cả nhà, rồi xách gùi lên đường. “Đồ nghề” của các chị khá đơn giản: Cây rựa hoặc dao sắc, vài chiếc bao bố cũ, can hoặc túi ni-lông đựng nước... Tất cả vật dụng được đặt trong chiếc gùi, theo các chị vào rừng.

Địa điểm làm việc thường xa xôi và liên tục thay đổi. Một phụ nữ luống tuổi bật mí: “Chị em mình phải chọn nơi vừa có nhiều cây to, gần khe suối để sẵn sàng lấy nước dập lửa than, tránh bị kiểm lâm phát hiện”. Vì thế, những người phụ nữ nghèo sẵn sàng vạch rừng, cuốc bộ hơn 10km. Có khi thời gian đến điểm khai thác mất nguyên một buổi sáng. Chị Hồ Thị Minh nhớ lại: “Lần đầu tiên theo chị em đi đốt than, mình mệt bở hơi tai. Tối về, hai chân nhức lắm, sau đó thì sưng vù lên như bị bệnh. Giờ thì quen rồi, cuốc bộ bao nhiêu cũng được”.

Tìm được điểm khai thác, chưa kịp nghỉ ngơi, các chị đã lao ngay vào công việc. Thông thường, những phu đốt than chia thành nhóm: Người đốn cây, người chặt thành khúc, người bó củi... Khi số lượng củi gỗ đã hòm hòm, các chị mới tập trung lại để đốt lấy than. Chị Hồ Thị Vân bật mí: “Mình thường chọn những cây gỗ lớn, chắc, kích thước đều nhau. Chụm gỗ khô xen với gỗ tươi rồi mới đốt. Đốt thì phải cẩn thận kẻo than bị già”.

Thông thường, người làm nghề đốt than thường cẩn thận đào “lò” - thực chất là những hố đất sâu vừa phải để chất củi đốt thành than. Nhưng một số chị em làm việc đơn giản hơn. Họ chọn mảnh đất trống, thoáng đãng để dồn củi gỗ, rồi châm lửa đốt. Bao giờ cũng có 3 - 4 người ngồi canh lửa. “Mình đã lấy của rừng, đã sai luật mà còn làm cháy rừng nữa thì tội để đâu cho hết nên phải cẩn thận” - Pỉ Yên thở dài giải thích.

Khi củi gỗ đã bén lửa và cháy thành than, các chị lấy nước chứa trong can hoặc túi ni-lông nước vẩy lên để dập lửa. Than “ra lò” được để nguội và cho vào bao. Mặt trời xuống núi cũng là lúc chị em gùi những bao than ấm nóng trở về nhà. Nếu được một bao than, coi như ngày làm việc “thắng lợi”. Chị Hồ Thị Bích thật thà nói: “Nghề này bấp bênh lắm. Gặp ngày trời mưa, trên đường đi bị rắn cắn, đốn cây chặt phải tay, bị bỏng lửa... thì coi như xui rồi”.

Một ngày “nước mắt, mồ hôi thấm từng hòn than”, các chị chỉ thu nhập khoảng 20 ngàn đồng. Thế nhưng, hiếm khi số tiền ấy nằm trong tay họ. Hầu hết, chủ quán mua than trừ vào số tiền các chị nợ gạo trước đây. Như vậy, mỗi ngày họ vào rừng lấy than đúng nghĩa là một ngày “kéo cày trả nợ”.

 Tận sâu trong tâm khảm chị em làm nghề đốt than, nỗi âu lo vần vũ ngày nối tháng. Chị Hồ Thị Tư nói hộ lòng các “thợ đốt than” khác: “Rừng rú chặt lắm rồi cũng hết. Chúng tôi áy náy lắm chứ. Chẳng biết con cháu sau này sống ra sao?”. Cái nhìn của bà Pỉ Yên sâu sắc hơn: “Nhiều lúc mình nghĩ không biết vì sao vào rừng chặt củi, đốt than quanh năm mà bà con mình vẫn cứ khổ? Phải chăng đó là cái giá mà mình phải chịu vì lấy của rừng?”...

Chạnh lòng nghĩ vậy nhưng cái khổ vẫn buộc phụ nữ thôn Khe Xong vào cái nghề lắm vất vả. Ông Hồ Văn Lan (Trưởng thôn Khe Xong) buồn buồn tâm sự: “Thú thật, bà con mình hiểu lâm luật lắm chứ. Họ cũng không muốn vào rừng đốn cây, đốt than đâu. Nhưng không làm thế thì họ chẳng có đồng nào mà trả tiền gạo nữa”.

Hàng ngày, những “nữ phu đốt than” vẫn băng bổ chốn rừng thiêng, nước độc để kiếm kế sinh nhai. Họ lặng lẽ chấp nhận cái nghề mà bản thân chẳng mặn mà. Những hòn than thấm mồ hôi, nước mắt vẫn đen nhánh nhưng má của chị em dần phai màu hồng...

Tây Long

Bình luận