Chủ nhật, 21/04/2019, 08:35 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Khoảng cách nghèo giữa các nhóm dân tộc vẫn là thách thức lớn

23/01/2019 - 22:32

Biên phòng - Tỷ lệ nghèo đa chiều (theo chuẩn nghèo đa chiều của Việt Nam) giảm đáng kể từ 15,9% năm 2012 xuống còn 9,1% năm 2016. Song khoảng cách nghèo giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc vẫn là thách thức lớn đối với Việt Nam trong việc thực hiện thành công Mục tiêu phát triển bền vững số 1 (SDG1) “giảm nghèo ở mọi chiều cạnh và ở mọi nơi”.

8b6y_9a
Rất nhiều hộ dân vùng DTTS thoát nghèo nhờ thảo quả - một loại cây có giá trị kinh tế cao. Ảnh: A Sài

Khoảng 6 triệu người đã thoát nghèo

Báo cáo đầu tiên phân tích sâu về nghèo đa chiều ở Việt Nam: “Giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh để đảm bảo cuộc sống có chất lượng cho mọi người” cho thấy khoảng 6 triệu người Việt Nam đã thoát nghèo. Đây là thành tựu giảm nghèo rất ấn tượng của Việt Nam.

Nhận thức được vai trò của các yếu tố khác ngoài thu nhập đối với chất lượng cuộc sống của người dân, năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo đa chiều. Đây là bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ đo lường nghèo theo thu nhập sang đo lường đa chiều bao gồm cả thu nhập và các chiều phi tiền tệ như nhà ở, tiếp cận nước sạch và vệ sinh, dịch vụ giáo dục, y tế, bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội. Điều này đã đưa Việt Nam trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong việc áp dụng cách tiếp cận nghèo đa chiều trong quá trình thực hiện SDG1.

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ ấn tượng trong việc thực hiện SDG1 - tỷ lệ nghèo cùng cực (dưới 1,9 USD/người/ngày) giảm mạnh từ 49,2% năm 1992 xuống còn 2% năm 2016. Trong số 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) mà Việt Nam cam kết đạt được vào năm 2030, SDG1 về giảm nghèo có khả năng đạt được cao nhất. Thành tích về giảm nghèo đã giúp Việt Nam đứng thứ 57 trong tổng số 193 nước thành viên của Liên hợp quốc về chỉ số SDG năm 2018, tăng 9 bậc so với xếp hạng năm 2017.

Kết quả phân tích số liệu qua khảo sát mức sống dân cư cho thấy, tỷ lệ nghèo dù đo lường bằng thước đo nào cũng đều giảm trong giai đoạn 2012-2016. Tỷ lệ nghèo thu nhập, chi tiêu cũng như nghèo đa chiều giảm mạnh. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 18,1% xuống 10,9% trong thời kỳ này. Tỷ lệ nghèo chi tiêu giảm từ 17,2% xuống 9,8%; còn tỷ lệ nghèo thu nhập giảm từ 12,6% xuống còn 7%. Chỉ có khoảng 2,7% dân số là nghèo theo cả 3 thước đo thu nhập, chi tiêu và nghèo đa chiều. Xét toàn bộ dân số thì có 18% dân số không thiếu hụt bất kỳ chỉ số nào trong 10 chỉ số nghèo đa chiều vào năm 2012. Tỷ lệ này tăng lên đáng kể vào năm 2016, ở mức 36,1%. Không có gia đình nào thiếu hụt 8 chỉ số trở lên. Chỉ có 37,6% dân số thiếu hụt một chỉ số và 15,5% dân số thiếu hụt hai chỉ số vào năm 2016. Nhóm thiếu hụt trầm trọng là nhóm thiếu từ 5-7 chỉ số và nhóm này chiếm 1,3% dân số vào năm 2016.

Bà Caitlin Wiesen, quyền Đại diện thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, đánh giá tiến bộ Việt Nam đạt được trong giảm nghèo là “thành công ở tầm thế giới”. Theo bà, Việt Nam đạt được thành công, được công nhận rộng rãi trên toàn cầu là nhờ tăng trưởng bao trùm, giúp tạo việc làm cho người dân; tiếp cận tương đối công bằng đối với các dịch vụ xã hội cơ bản; các chương trình mục tiêu và chính sách bảo trợ xã hội giúp những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương cải thiện sinh kế và chất lượng cuộc sống.

Đói nghèo vẫn tồn tại ở nhiều khu vực

Dù đạt được kết quả tích cực nêu trên, nhưng nghèo đói vẫn tồn tại ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống. Tỷ lệ nghèo đa chiều ở vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cao gấp 2 lần so với mức trung bình của cả nước. Trong khi tỷ lệ nghèo đa chiều năm 2016 của dân tộc Kinh là 6,4% thì tỷ lệ này ở một số nhóm DTTS cao hơn nhiều, như dân tộc Mông là 76,2%, Dao 37,5% và Khmer 23,7%. 

Bên cạnh đó, chênh lệch về chi tiêu giữa nhóm đồng bào Kinh và Hoa, đồng bào các DTTS có xu hướng gia tăng trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2016. Năm 2004, chi tiêu của đồng bào DTTS bằng 59% mức chi tiêu của nhóm Kinh và Hoa thì đến năm 2016, tỷ lệ này chỉ còn là 52%. Chênh lệch về thu nhập cũng có xu hướng tương tự. Năm 2004, thu nhập của nhóm đồng bào DTTS bằng 68% thu nhập của nhóm đồng bào Kinh. Đến năm 2016, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 52%. 

jf34_9b
Thu nhập của người DTTS chủ yếu đến từ sản xuất nông nghiệp, thấp hơn nhiều so với thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Ảnh: Bích Nguyên

Sự chênh lệch về trình độ giáo dục giữa nhóm Kinh và Hoa, và đồng bào DTTS cũng là đáng kể. Tỷ lệ những người không có bằng cấp trong nhóm đồng bào các DTTS năm 2016 là 43,8%, cao gấp đôi so với người Kinh và Hoa. Tỷ lệ những người có trình độ phổ thông trung học trở lên trong nhóm các DTTS năm 2016 là 7,8%, bằng một nửa so với nhóm người Kinh và Hoa. Chênh lệch về tiếp cận với điện và nước sạch được thu hẹp lại, nhưng chênh lệch về tiếp cận nhà vệ sinh hợp vệ sinh lại tăng lên. 

Điều đáng lưu ý là có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nghèo và tốc độ giảm nghèo giữa các nhóm đồng bào DTTS. Trong giai đoạn 2011-2016, tỷ lệ nghèo chung của tất cả các DTTS ở Việt Nam đều giảm. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo chung cũng như giảm theo các chiều là rất khác nhau giữa các nhóm DTTS. Cụ thể, trong khi một số dân tộc như Mường, Tày, Thái có tỷ lệ nghèo tương đối thấp và tỷ lệ giảm nghèo nhanh thì một số dân tộc khác như Mông, Gia Rai, Xơ Đăng lại có tỷ lệ nghèo cao và tốc độ giảm nghèo chậm. 

Theo bà Caitlin Wiesen, để có thể giảm bớt khoảng cách nghèo giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc, ngoài việc mở rộng dịch vụ xã hội và bảo trợ xã hội theo hướng phổ quát thì năng lực phát triển kinh doanh của đồng bào DTTS cần được tăng cường, cùng với tiếp cận tài chính, ươm mầm khởi nghiệp và thị trường. Bà Caitlin Wiesen cho rằng: “Việt Nam có thể tiếp tục giảm nghèo thành công hay không phụ thuộc vào khả năng đảm bảo tăng trưởng bao trùm tạo công ăn việc làm tốt hơn cho người dân và hỗ trợ hiệu quả những người bị bỏ lại xa nhất”.

Bích Nguyên