Chủ nhật, 15/12/2019, 05:20 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Kết nghĩa bản - bản: Huy động sức mạnh lòng dân hai bên biên giới

21/07/2017 - 13:01

Biên phòng - 22 năm qua, phong trào kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới do BĐBP Quảng Trị khởi xướng và thực hiện đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng trong công tác đối ngoại và mang đến những hiệu quả thiết thực.

12ag
Ký kết biên bản giao ban định kỳ giữa khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị và bản Phường, huyện Sê pôn, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt. Ảnh: Thành Phú

Cho đến nay, mô hình này đã được nhân rộng ra toàn bộ tuyến biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia và Việt Nam - Trung Quốc với tên gọi “Phong trào kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới”. Thiếu tướng Trần Đình Dũng, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng BĐBP chính là người đầu tiên đề xướng mô hình này, khi ông còn là Chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Trị. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông về những buổi sơ khai thực hiện phong trào này.

PV: Đề nghị Thiếu tướng cho biết, xuất phát từ đâu ông có ý tưởng xây dựng phong trào kết nghĩa bản - bản 2 bên biên giới Quảng Trị?

Thiếu tướng Trần Đình Dũng: Quảng Trị có đường biên giới bộ dài hơn 179km, tiếp giáp với các huyện Sê Pôn, Mường Noòng (tỉnh Sa Vẳn Na Khệt), Tù Muồi (tỉnh Sa La Van) của nước bạn Lào. Những năm 90 của thế kỷ trước, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực hai bên biên giới hết sức phức tạp... Để bảo vệ biên giới, lực lượng BĐBP không thể thường xuyên có mặt khép kín biên giới được. Việc bảo vệ biên giới đâu chỉ là trách nhiệm của BĐBP Việt Nam, biên giới là biên giới chung của Việt Nam và nước láng giềng, mà đã là biên giới chung thì phải cùng nhau bảo vệ, quản lý.

Muốn quản lý, bảo vệ có hiệu quả bền vững phải dựa vào Hiệp định biên giới quốc gia mà Việt Nam ký với nước láng giềng; phải dựa vào cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân hai bên biên giới; phải dựa vào sức mạnh tổng hợp, đặc biệt là sức mạnh lòng dân hai bên biên giới. Ý tưởng kết nghĩa các đồn Biên phòng với lực lượng bảo vệ biên giới, cửa khẩu của nước làng giềng; kết nghĩa nhân dân hai bên biên giới thông qua các cặp bản sinh sống đối diện nhau bắt đầu từ đó.

Được sự ủng hộ, đồng tình cao của Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và sự giúp đỡ của Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Trị, tôi đã xây dựng đề tài khoa học về kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới. Sau khi đề tài được nghiệm thu, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh lấy cặp bản Ka Tăng (Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị) và Đen Sa Vẳn (Sê Pôn, Sa Vẳn Na Khệt) làm thí điểm thực hiện và đã mang lại kết quả hết sức tốt đẹp.

PV: Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, BĐBP Quảng Trị thực hiện phong trào kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới, khó khăn nhất là vấn đề gì, thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Trần Đình Dũng: Đây là mô hình mới, chưa có thực tiễn kiểm nghiệm nên để triển khai có hiệu quả là rất khó khăn, đặc biệt là sự đồng thuận của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và nhân dân Lào cũng như thống nhất với Đảng, chính quyền các cấp ở biên giới của ta. Các vấn đề về kết nghĩa phải thông qua các cuộc hội đàm của tỉnh, huyện và BĐBP với phía Lào để đưa nội dung thành các văn bản ghi nhớ. Sau đó, cử các đoàn công tác của BĐBP trực tiếp làm việc với chính quyền các huyện biên giới, các lực lượng Công an, Quân sự của bạn Lào để tạo sự thống nhất đồng thuận.

Sau khi đã thống nhất, hai bên vừa xây dựng quy chế kết nghĩa của hai bên, vừa tuyên truyền, vận động để cán bộ và nhân dân hiểu về chủ trương này. Khi cấp ủy Đảng, chính quyền hai bên đồng thuận cùng phối hợp, lực lượng Biên phòng cùng với hai trưởng bản đưa nội dung quy chế kết nghĩa thảo luận trong đội ngũ cán bộ cốt cán, sau đó đưa ra dân hai bản thảo luận thống nhất. Ngày 28-4-2005 đã tiến hành tổ chức cho cặp bản Ka Tăng và Đen Sa Vẳn ký kết nghĩa.

PV: Thiếu tướng đánh giá thế nào về tính hiệu quả từ phong trào này?

Thiếu tướng Trần Đình Dũng: Hiệu quả rõ nhất là nhận thức của cán bộ và nhân dân ở biên giới, đặc biệt là nhân dân ở các cặp bản đối diện có nhiều chuyển biến tích cực. Họ đã ý thức được về quốc gia, quốc giới, nắm và tự giác thực hiện tốt Hiệp định về biên giới quốc gia giữa Lào và Việt Nam; nắm và thực hiện tốt quy chế kết nghĩa của hai bản, các gia đình đều cam kết thực hiện. Qua đó, các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng được củng cố, kiện toàn và đi vào hoạt động có hiệu quả, nhân dân tích cực tham gia với lực lượng chuyên trách của mỗi bên tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc, cùng giải quyết, xử lý thấu tình đạt lý theo đúng Hiệp định quy chế biên giới và pháp luật của mỗi bên.

Thông qua quy chế kết nghĩa bản - bản, cam kết của các hộ dân sống hai bên biên giới đã tạo điều kiện để người dân tự giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống và các vấn đề liên quan đến biên giới như xâm canh, xâm cư, lấy vợ, lấy chồng trái phép, gia súc phá hoại hoa màu, giúp giống cây, giống con, kỹ thuật sản xuất, giao lưu văn hóa, thể thao; tuyên truyền xóa bỏ các tập tục lạc hậu... Từ đó, nhân dân hai bên cùng giúp đỡ nhau phát triển sản xuất, phòng trừ dịch bệnh, cấp cứu, chữa bệnh, trao đổi học tập kinh nghiệm... 

PV: Ý nghĩa của phong trào kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới là gì, thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Trần Đình Dũng: Việc thực hiện chủ trương kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới giữa tỉnh Quảng Trị và hai tỉnh Sa Vẳn Na Khệt, Sa La Van, là một mô hình đúng đắn, khẳng định rõ vai trò vị trí to lớn của quần chúng là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và vai trò lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, chính quyền hai bên biên giới; sự nhất trí cao từ chủ trương đến biện pháp cụ thể của các lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương hai bên biên giới, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, đồng thời phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân hai bên biên giới.

Qua phong trào đã từng bước nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc hai bên biên giới về ý thức trách nhiệm đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chất lượng hiệu quả bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội; xây dựng các tổ chức quần chúng có bước chuyển biến tốt hơn, nhân dân biên giới có điều kiện để giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo bền vững.

Sau khi đã kết nghĩa bản - bản thì việc đối ngoại giữa hai quốc gia ở vùng biên giới trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Việc lớn, việc nhỏ, việc làng, việc họ của cả hai bên đều được nhân dân và các già làng, trưởng bản dàn xếp. Mâu thuẫn nào gay gắt mấy rồi cũng được giải tỏa êm xuôi... Nhân dân hai bên biên giới đã tự giác chấp hành quy chế tự quản, quy chế kết nghĩa, giữ gìn và phát huy được mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống vốn có từ lâu giữa hai nước Việt - Lào; đồng thời đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ biên giới, trong công tác đối ngoại biên giới, đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân trên biên giới. Đây là vấn đề có tính chiến lược trong bảo vệ biên giới quốc gia.

Sau này, khi ra Hà Nội công tác, tôi đã đề xuất Bộ Tư lệnh BĐBP báo cáo Bộ Quốc phòng phối hợp với tỉnh Quảng Trị tổ chức rút kinh nghiệm mô hình kết nghĩa bản - bản của 27 cặp bản ở Quảng Trị để nhân rộng; báo cáo Bộ Quốc phòng và các cơ quan có liên quan của Chính phủ về mô hình kết nghĩa nhân dân hai bên biên giới và các lực lượng bảo vệ biên giới; đồng thời triển khai kết nghĩa nhân dân biên giới, tiến hành tuần tra song phương trên biên giới, kết nghĩa các lực lượng bảo vệ biên giới giữa các nước láng giềng. Các mô hình này đến nay đã được triển khai có hiệu quả trên các tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam – Lào, Việt Nam - Campuchia.

PV: Xin cảm ơn đồng chí!

Nguyễn Thành Phú (thực hiện)