Thứ 7, 28/03/2020, 23:51 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Kết nghĩa bản - bản: Hợp lòng dân biên giới

Kết nghĩa bản - bản: Hợp lòng dân biên giới

23/03/2012 - 11:22

Biên phòng - Nhiều năm qua, tình hình an ninh ở các bản làng biên giới phía Tây tỉnh Quảng Trị luôn được đảm bảo. Mô hình kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới đã góp phần giúp an ninh vùng biên vững vàng như chính thế trận lòng dân.

Kết mối thâm giao

Người dân bản Ngược, xã Pa Nang, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam và bản Tà Riệp, xã A Xóc, huyện Tù Muồi, tỉnh Sa-la-van, Lào có lẽ sẽ không bao giờ quên ngày có ý nghĩa đặc biệt vừa qua. Trước sự chứng kiến của lãnh đạo địa phương, BĐBP và đông đảo nhân dân, lễ kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới đã diễn ra trang trọng và cảm động. Trong khuôn khổ buổi lễ, 100% hộ dân của hai bản đã tự nguyện kí cam kết thực hiện nghiêm túc Hiệp định về quy chế biên giới giữa hai nước.

Bản Ngược và bản Tà Riệp vốn chỉ cách nhau vài quả đồi. Nhiều hộ dân ở hai bản có quan hệ dòng tộc lâu đời với nhau. Thế nên, việc qua lại thăm thân với nhau thông thường như “cơm ăn, nước uống hàng ngày”, do đó, khái niệm “biên giới” vẫn chưa ăn sâu trong tiềm thức bà con. Trước thực tế ấy, lễ kí cam kết bản – bản chính là hoạt động tiêu biểu góp phần làm tình cảm bà con sống ở hai triền biên giới thêm son sắt trên tinh thần tôn trọng chủ quyền, pháp luật, phong tục, tập quán mỗi nước.

 388-(2).gif
Buổi giao ban giữa bản La Lay (Việt Nam) và La Lay (Lào).

Để chủ trương kết nghĩa bản - bản đi vào thực tế, tháng 4-2005, BĐBP tỉnh tổ chức lễ kết nghĩa thí điểm giữa bản Ka Tăng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với bản Đen Sa Vẳn, huyện Sê Pôn, tỉnh Sa-vẳn-na-khệt. Chỉ sau một thời gian ngắn đã xuất hiện nhiều tín hiệu đáng mừng như nhận thức về an ninh biên giới của bà con được nâng lên, tình trạng xâm canh, xâm cư không còn… BĐBP tỉnh tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới. Đến nay, 23/23 cặp bản đối diện hai bên biên giới Việt - Lào đã chính thức kết nghĩa tâm giao.

Từ ngày kết nghĩa bản – bản hai bên biên giới, nhận thức người dân đã thay đổi đáng kể. Ông Hồ Văn Hêm, Chủ tịch UBND xã A Ngo, huyện Đakrông, Quảng Trị bộc bạch: “Cái đầu của bà con giờ sáng nhiều rồi. Từ việc nhỏ đến chuyện lớn, bà con đều biết đối chiếu theo quy định pháp luật, Hiệp định về quy chế biên giới để làm rõ lẽ đúng sai. Nhà nào có dâu hoặc rể người Lào thì cha mẹ đã biết nhắc nhở vợ, chồng, con mình đến UBND xã để đăng kí kết hôn. Tình trạng đem người chết sang bên kia biên giới để chôn cất, kẻo sợ “con ma” trở về phá hoại bản làng cũng không còn nữa...”. Sự thay đổi nhận thức còn thể hiện sinh động ở việc bà con rất vui vẻ giúp đỡ nhau làm kinh tế, có thể tự đứng ra giải quyết mâu thuẫn, không để xảy ra những vụ việc đáng tiếc.

Sắt son tình nghĩa Việt - Lào

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” – Mỗi lần dẫn câu ca dao này để khuyên dạy con cháu, những người lớn tuổi như ông Kôn Thương, Bí thư chi bộ thôn La Lay, xã A Ngo, huyện Đakrông đều không quên nhắn nhủ bài học về mối quan hệ bản – bản hai bên biên giới: “Bản La Lay (Việt) và La Lay (Lào) dù phân cách biên giới nhưng tình cảm son sắt như người cùng một nước. Vì thế, dân hai bản phải biết đùm bọc, giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn”. Cứ thế, những đứa trẻ lớn lên lại tiếp tục truyền dạy, khuyên bảo thế hệ sau góp phần dựng xây để mối quan hệ bản – bản hai bên biên giới ngày càng bền vững.

Không chỉ “đóng khung” trong tình đoàn kết, người dân các bản làng dọc tuyến biên giới Việt – Lào còn có nhiều hoạt động tương trợ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Đến giờ, nhiều người dân huyện Tù Muồi, tỉnh Sa-la-van, Lào vẫn thầm cám ơn những người bạn bên kia biên giới. Năm 2009, người dân ở hai huyện Tù Muồi và Đakrông đều chịu ảnh hưởng nặng nề do trận lũ lịch sử. Thế nhưng, chính quyền và nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị vẫn quyết định gửi 15 tấn gạo hỗ trợ nước bạn với phương châm “lá rách ít, đùm lá rách nhiều”. Thời điểm ấy, cầu tràn A Ngo (huyện Đakrông) bị chìm trong nước lũ, song đoàn cứu trợ vẫn cố gắng tìm mọi cách đưa hàng hóa sang bên kia để hỗ trợ người dân nước Bạn. Sau trận bão, cán bộ, chiến sĩ BĐBP cùng người dân Đakrông còn sang bản kết nghĩa góp 20 ngày công giúp làm mới 27 ngôi nhà cho bà con. Tinh thần tương thân, tương ái cũng thể hiện sinh động qua nhiều việc làm cụ thể như góp gạo ủng hộ các gia đình nghèo, dồn tiền giúp đỡ những hộ dân không may gặp hoạn nạn...

Bên cạnh đó, việc hỗ trợ nhau phát triển kinh tế được người dân ở các bản đối diện hai bên biên giới rất quan tâm. Đến vùng biên giới phía Tây tỉnh Quảng Trị, chúng tôi được nghe nhiều câu chuyện về tình đoàn kết Việt – Lào. Ở xã Ba Tầng, huyện Hướng Hóa, lâu nay, bà con bản Loa luôn coi người dân bản A Rá là anh em một nhà. Anh Hồ Văn Hoạt (Trưởng bản Loa, xã Ba Tầng) vui vẻ khoe: “Dân bản mình vừa giúp bản bạn hoàn thành tuyến đường giao thông liên thôn để đi lại, chuyên chở hàng hóa thuận lợi hơn”.

Anh Hoạt cho biết thêm, dân bản Loa còn thường xuyên tổ chức những chuyến thăm hỏi, giúp đỡ hộ nghèo ở bản A Rá, hướng dẫn dân nước Bạn cách thức phát triển kinh tế. Hai bản thân thiết nhau đến mức, người dân bản A Rá nay đã quen với nhiều nếp phong tục của người Việt Nam như ăn Tết Nguyên đán, tổ chức lễ hội đâm trâu... Thăm bản Cù Bai, chúng tôi nhận được thông tin, người dân nơi đây vừa hỗ trợ hơn 7.000 cây giống các loại cho bà con bản kết nghĩa. Ngoài ra, đồn BP Cù Bai còn vận động thanh niên làm đường từ bản Cù Bai sang bản Rạc, kéo dài đến tận trung tâm xã Ka Pai với chiều dài gần 20km... Đáp lại tấm chân tình ấy, bà con ở các bản làng biên giới nước Lào cũng có nhiều hoạt động thể hiện sự tri ân đối với người dân Việt Nam. Nhờ thế, cuộc sống của bà con ở các bản đối diện hai bên biên giới ngày càng được cải thiện.

 8828-(3).gif
 Người dân xã Ba Tầng giúp bản bạn làm đường. Ảnh: Tây Long

Ngoài chú tâm vào mô hình kết nghĩa bản – bản, BĐBP Quảng Trị còn chỉ đạo các đồn biên phòng tuyến biên giới đất liền vận động người dân cam kết giữ vững an ninh – trật tự. Đến nay, 111 thôn, bản với 9.866 hộ dân vùng biên đã kí cam kết. Những năm qua, người dân đã cung cấp nhiều nguồn tin có giá trị, giúp BĐBP phát hiện, xử lí hàng trăm vụ vi phạm pháp luật. Ngoài ra, lực lượng dân quân thôn, bản còn thường xuyên phối hợp với các đồn, trạm biên phòng tuần tra bảo vệ biên giới. Đặc biệt, phong trào này diễn ra rất sôi nổi, tự giác ở các cặp bản kết nghĩa, thu hút sự quan tâm của đông đảo nhân dân.

Qua thực tế có thể thấy, phong trào kết nghĩa bản – bản hai bên biên giới Việt – Lào đã thu được nhiều kết quả đáng mừng. Thành công ấy xuất phát từ nỗ lực chung của các cấp chính quyền, cán bộ và nhân dân, đặc biệt là lực lượng BĐBP. Hơn ai hết, họ - những người lính áo xanh đã biết cách xây dựng thế trận lòng dân để giữ vững bình yên vùng biên cương Tổ quốc.

Tây Long