Chủ nhật, 22/09/2019, 18:04 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Hồ Chí Minh và sự ra đời của nước Việt Nam mới

05/09/2016 - 14:01

Biên phòng - 10 năm sống và học tập tại Huế là khoảng thời gian quan trọng hun đúc nên những phẩm chất cao quý nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh như lòng yêu nước thương dân, lòng căm thù thực dân phong kiến và bè lũ tay sai, trước khi Người bôn ba nước ngoài 30 năm ròng rã, tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, rồi trở về đất nước lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

u64x_4a
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2-9-1945. Ảnh: Tư liệu

Đến với Cách mạng Tháng Mười Nga

Tuổi niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn bó mật thiết với Huế trong 6 năm (1895-1901). Lần xa quê hương Nam Đàn đầu tiên này, Người thường hay lui tới và tham dự các buổi cúng tế tại miếu Âm hồn. Miếu được nhân dân Huế tạo dựng vào khoảng năm 1895, nhằm tưởng nhớ, thờ cúng các anh hùng chiến sĩ và đồng bào anh dũng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc trong sự kiện bi hùng thất thủ Kinh đô ngày 23-5-1885 (âm lịch). Người đã thấm thía những bài văn tế bi ai về số phận những con người đã hy sinh vì đại nghĩa, vì độc lập, tự do của dân tộc.

Lần thứ hai đến Huế, cậu bé Nguyễn Sinh Cung (sau đó, Người đổi tên là Nguyễn Tất Thành) cùng gia đình sống tại ngôi nhà Dãy Trại (nay là 47 Mai Thúc Loan) trong 4 năm (1906-1909). Chính thời gian này, chứng kiến sự chèn ép của thực dân Pháp với triều đình, Người đã cảm nhận và chia sẻ một cách sâu sắc những tâm tư với cha: "Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (Quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ lại càng nô lệ hơn).

Những năm tháng học ở trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba và trường Quốc học Huế, Người đã học để nắm vững tiếng Pháp và bị hấp dẫn bởi tư tưởng "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" của giai cấp tư sản qua văn hóa Pháp. Vì thê, sau khi tham gia phong trào chống thuế tháng 4-1908, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước ở phương trời Tây vào năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: "Thời gian ở Huế là thời gian Nguyễn Tất Thành lớn lên và bắt đầu đi học. Những năm tháng đó là thời gian rất quan trọng đối với sự hình thành nên con người Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, thời gian hình thành một con người lạ lùng, với những ý tưởng lạ lùng, đưa đến những thành tựu lạ lùng". Khác với Phan Bội Châu và các bậc tiền bối khác cũng như các nhà cách mạng đương thời, chàng thanh niên hừng hực lòng yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định sang phương Tây để tìm hiểu xem "nước Pháp và các nước khác làm thế nào để về nước giúp đồng bào mình".

Vào ngày 5-6-1911, tại bến cảng Nhà Rồng, với tên mới là Văn Ba, Người đã lên tàu Pháp mang tên L'Admiral Latouche Trévill để làm phụ bếp. Từ đây, hòa mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba đã bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước 30 năm ròng, đi qua 3 đại dương, 4 châu lục, 28 quốc gia để sau đó làm nên sự nghiệp giải phóng dân tộc vĩ đại nhất cho dân tộc Việt Nam.

Từ chủ nghĩa yêu nước, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đến với ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Người viết: "Tiếng sấm cách mạng ấy thúc đẩy những người Việt Nam yêu nước hướng về phía Liên Xô, hấp thụ lý luận vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin".

Trong tác phẩm "Đường Kách Mệnh" được xuất bản năm 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận xét rất sâu sắc, toàn diện về Cách mạng Tháng Mười Nga: "Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới". Tin theo Lênin, tin theo Cách mạng Tháng Mười, Người khẳng định: "Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản".

Tiếp thu kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Hồ Chủ tịch đã chỉ ra: "Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Các Mác) và Lênin".

Chính từ những tiếp thu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hợp nhất các tổ chức Cộng sản lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Đầu năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời, phất cao ngọn cờ lãnh đạo cách mạng thì một phong trào giải phóng dân tộc sôi nổi dâng lên, đến đỉnh cao nhất là Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) đã khiến cho chính quyền thực dân và bè lũ phong kiến một phen khiếp vía.

15 năm sau, được Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi đường và cổ vũ, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, lật nhào sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên tại Đông Nam Á.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: "Việt Nam có câu tục ngữ: "Uống nước nhớ nguồn". Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang thì giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười".

Vị lãnh tụ của nước Việt Nam mới

Cách đây 71 năm, vào ngày 2-9-1945, hàng chục vạn người Việt Nam đã tề tựu tại Quảng trường Ba Đình để nghe Bác Hồ thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời đọc bản "Tuyên ngôn độc lập".

Bản Tuyên ngôn với lý lẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn đã tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế rằng: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa; nước Việt Nam đã thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam; và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch đã khẳng khái chỉ rõ trước toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế về sự tiếp nối những tinh hoa của dân chủ thế giới. Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chủ tịch đã viết: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được...

Như vậy, dân tộc Việt Nam muốn tiếp thu những giá trị tinh túy nhất của nền dân chủ thế giới, luôn khao khát và ao ước nó, bởi "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được". Nhưng các nước thực dân thì như bản Tuyên ngôn độc lập đã vạch mặt là lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa…

Tuyên ngôn độc lập đã thể hiện quyết tâm của cả quốc dân đồng bào trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Tiếp tục thực hiện những điều thiêng liêng trong Tuyên ngôn độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam đã anh dũng đứng lên đấu tranh giành và giữ vững độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc; xây dựng đất nước ngày càng phát triển.

Nguyễn Văn Toàn